Góc Biển Chân Mây
Trước đây trên mặt báo này, có bài Hy vọng ở Chân Mây. Bài báo không được chú ý lắm. Tôi tưởng hy vọng đã trở thành thất vọng. Không ngờ vừa rồi được nghe PGS-PTS Nguyễn Sỹ Hồng - P. Phân viện trưởng Phân viện vật lý tại TP HCM, giới thiệu công trình nghiên cứu, khảo sát lập dự án chọn địa điểm cảng biển nước sâu và khu công nghiệp Chân Mây tỉnh Tỉnh Thừa Huế do PTS Trương Đình Hiển làm chủ nhiệm đề tài, và được chính quyền Thừa Thiên Huế thông qua, tôi mừng hết sức.

Cảng Chân Mây

Nếu như dự án nầy trở thành hiện thực giống như mở được cửa một kho vàng đang ngủ yên. Tôi đọc lại sách sử cũ, tìm xem vùng cảng nước sâu nầy đã tồn tại và  được sử dụng trong quá khứ như thế nào. Vừa đọc tôi vừa háo hức muốn trở lại Chân Mây. Khi công việc tổ chức văn phòng thường trú báo Lao Động tại Huế vừa ổn định, tôi  rủ Bùi Ngọc Quỳnh đi ngay.

Theo đường chim bay, vùng vịnh Chân Mây chỉ cách phía nam Huế chưa đầy 50 km, cách Đà Nẵng hơn 30 km, cách thôn Lập Yên dưới chân đèo Phú Gia chỉ có 5 km. Chiếc Cúp 80  cọc cạch của tôi  chở hai cây bút  miền Trung nặng đến một tạ hai, thế mà ... nếu không bị xì lốp dọc đường thì chỉ hơn hai tiếng đồng hồ là tới nơi.

1. Một khám phá hay một vùng cảng bị bỏ quên?

Con đường nối Quốc lộ 1 với Chân Mây vừa được địa phương trải nhựa và tráng một lớp đá trắng tinh. Nhưng chỉ được một đoạn không quá một km. Hết đoạn ấy xe  chúng tôi chúi xuống nền đường đất đỏ cũ lởm chởm đá nhọn. Ngay lúc ấy Ngọc Quỳnh  lại vỗ vai tôi :" Hình như xẹp lốp sau anh a". Đúng như vậy. May quá chúng tôi dắt xe lui gần một trăm mét  đã tìm được thợ vá.

Anh thợ sửa xe đạp bên núi Thổ Sơn biết chúng tôi về Chân Mây, hỏi :" Cái cảng nầy có từ lâu rồi tại sao đến bây giờ mình mới khám phá ra, các anh ?"  Ngọc Quỳnh lấy tư liệu trong Lịch sử xứ Đàng trong đáp :" Đây là một vùng biển nước sâu  được nhớ lại chứ không  phải mới phám phá. Từ thế kỷ thứ tư mũi Chân Mây có tên là bến Ôn Công  đã được xem là ranh giới của Lâm Âp (Chiêm Thành) và quận Nhật Nam rồi mà". Vâng, đúng như thế. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí của triều Nguyễn gọi mũi Chân Mây ngày nay là núi Châu Mãi. Cuối thế kỷ XIX, Marcel Monnier đi du lịch Huế đã thấy được cái ưu điểm nước sâu của Chân Mây (Chou-May). Trong cuốn ký sự Le Tour d' Asie ( xuất bản năm 1899) Marcel Monnier cho biết người ta có thể đến Chou-May bất kỳ thời tiết nào  trong lúc cửa Thuận An không thể qua được ngay khi chỉ có sóng nhỏ và  cũng không hy vọng gì  đi được khi người ta đào thêm một con kênh xuyên qua vùng cát lầy ấy. Marcel Monnier  cũng cho biết lúc ấy đã có một số bài nghiên cứu và một vài sự thăm dò làm cái cảng nầy. Không rõ vì sao sau đó việc xây dựng không thành. Đầu thế kỷ XX, Bogaert  khai thác và chế biến gỗ ở rừng Thừa Lưu, và cho thuyền chỡ sản phẩm xuôi theo sông Chu Mới  ( nói trại ra từ chữ Châu Mãi) xuất khẩu ở cảng  Chân Mây nầy. Năm 1947, tướng Henry Le Bris đã cho quân viễn chinh đổ bộ vào Chân Mây  để tái chiếm Huế. Đối với tôi ở đây cũng có một chuyện nhớ mãi: Mùa hè năm 1966, tôi phụ trách đoàn sinh viên Quyết tử đã cùng với các đoàn thể tranh đấu khác làm chủ thành phố Huế và sân bay Phú Bài  hàng tháng trời, quân Thiệu Kỳ đành phải theo con đường Henry Le Bris  đi trước đó 9 năm,  đổ bộ vào Chân Mây để đàn áp phong trào Huế. Phong trào tranh đấu không giữ nổi, nhiều anh em tranh đấu phải thoát ly( trong đó có tôi, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường-Ngọc Phan ...) Việc  cuối cùng  liên quan đến vùng vịnh nầy là năm 1973, theo anh Bùi Ngọc Ga-Chủ tịch xã Lộc Vĩnh, chính quyền Sài Gòn cũ với sự trợ giúp của Mỹ đã đắp con đường nối Quốc lộ 1 với Chân Mây bằng đất đỏ để sử dụng cảng nước sâu Chân Mây. Kế hoạch chưa hoàn thành thì những ông chủ công trình nầy phải rút chạy trước sự kiện giải phóng Huế hồi tháng 3.1975. Con đường đắp đất đỏ tồn tại với cái tên  đường Đỏ

2.  Vùng cảng nước sâu Chân Mây

Trụ sở xã Lộc  Vĩnh nằm ở gần cuối đường Đỏ, cách Quốc lộ 1A 5 km. Xa hơn một chút là trụ sở HTX Bình Dương. HTX  bị kinh tế thị trường cho đo ván đã phải giải tán,  giờ đây trụ sở chuyển làm trường học. Từ đấy đi thêm vài chục mét là ra đến thềm cát bờ vịnh Chân Mây. Cát thềm vịnh mịn và nén chặt, xe mười tấn  qua lại không hề bị lún, loại xe Honda với trọng lượng của hai chúng tôi thì  thềm cát ấy xem như không có ký lô nào. Một vùng vịnh  tam giác rộng chừng 20 km2 trải ra trước mặt chúng tôi. Đáy của tam giác là thềm cát trắng nằm ở phía nam dưới chân chúng tôi, cạnh phía tây là cửa sông Cù Dù và mũi Chân Mây tây (núi Cù Dù),  cạnh phía đông là cửa sông Chu Mới và mũi Chân Mây đông (Hòn  Dòn). Hai cái mũi đông-tây cách nhau chừng 7km giống như hai hai cánh  tay khổng lồ che chắn các luồng gió bão thổi vào vịnh.  Mảnh đất sau lưng chúng tôi kể từ đông sang tây có 4 làng Cảnh Dương, Đông An, Bình An và Phú Hải. Chúng tôi vượt lên phía tây và được một sĩ quan đồn biên phòng 232 hướng dẫn trèo lên núi Cù Dù. Chỗ thuyền cập vào núi còn giữ lại dấu tích của chùa cổ Bồng Lai - theo dân làng kể, lúc chùa chưa bị chiến tranh phá huỷ, vua Khải Định và bà Từ Cung đã nhiều lần cho tu sửa để cầu tự.

Đứng trên mũi Chân Mây tây cao vòi vọi nhìn về mũi Chân Mây đông, lòng tôi hết sức  rộn ràng. Bãi tắm Cảnh Dương  thuộc loại sạch nhất Việt Nam đã từng được vua Khải Định dựng hành cung Tỉnh Viêm gần đấy để nghỉ mát, nằm ngay dưới chân núi. Mới đây, khi đến thăm  bãi tắm nầy, Chủ tịch nước Lê Đức Anh so sánh  bãi tắm Cảnh Dương sạch đẹp giống như một bãi tắm quốc tế của Indonésia mà Chủ tịch đã từng được mời đến. Theo qui hoạch của nhóm làm dự án cảng nước sâu Chân Mây, tại Cảnh Dương nầy sẽ dựng lên một khu du lịch cao cấp rộng đến 170 ha. Vùng vịnh  núp dưới bóng mũi Chân Mây đông (cao 100m, vươn ra biển đông 2 km) nước xanh ngắt, chỗ cạn cũng đo được 9m, chỗ sâu đến trên dưới 15 m, tàu 50.000 đến 70.000 tấn có thể cập bến. Ở đấy có thể xây dựng cảng containeur, cảng xi-măng và vật liệu xây dựng, cảng nhập xăng dầu, cảng du lịch, cảng cá viễn dương, cảng hoa tiêu, lai dắt, thuế quan. Công suất của cảng có thể đạt đến 40 triệu tấn /năm. Nếu khu cảng nước sâu đó được xây dựng thì vùng đồng bằng Thừa Lưu-Nước Ngọt nằm gọn giữa hai cái đèo Phước Tượng và Phú Gia có thể  thiết lập một khu công nghiệp lớn của Thừa Thiên Huế nối tiếp với vùng kinh tế trong điểm miền Trung ở bên kia đèo Hải Vân.

Đó là chuyện của tương lai, chuyện của Thế kỷ XXI. Đứng trên cái vịnh nầy tôi không thể không nhớ đến chuyện cũ. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã cùng triều thần ra thị sát vùng vịnh nầy để đặt đồn thú, Ngô Thời Nhậm đi tháp tùng đã tức cảnh nhiều bài thơ hùng tráng. Về sau, Nguyễn Anh từ miền Nam ra, đậu thuyền trên vịnh Châu Mãi ( Chân Mây) chỉ huy các cánh quân giành lại Phú Xuân trong tay quan quân triều Quang Toản. Đến khi thống nhất đất nước, Nguyễn Anh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, ông cho đặt đài hoả phong (hải đăng ngày xưa) trên đỉnh mũi. Con sông Bù-lu bắt nguồn từ vùng núi cao 400-500m nối tiếp với khu nghỉ mát Bạch Mã, chảy qua  xã Lộc Thủy rồi men theo dãy núi Rẫm và làng Cảnh Dương ra cửa Kiểng ở chân mũi Chân Mây tây còn ghi dấu biết bao kỷ niệm hào hùng của chúng tôi.Trong những năm trước và sau ngày ký Hiệp Định Paris, tôi cùng với anh em xã Tân Lộc ( Lộc Thủy ngày Nay) đêm đêm từ núi Rẫm bơi qua sông Bù Lu để vào làng Phước Hưng làm việc với  cơ sở móc nối từ Huế ra. Nhiều khi  chúng tôi bị địch vây trên núi lâu ngày, hết cả lương thực, các  bà mẹ ở Phước Hưng  bỏ gạo vào chai khằng lại, cột vào một chiếc nón cời và thả trôi sông. Ngồi trên núi thấy nón trôi lơ lửng như có người bơi về phía mình chúng tôi  xuống đón và nhận được gạo. Trong các hàng đá núi Cù Dù đã từng là "trại sáng tác" của các  nhà văn Trần Phương Trà, Nguyễn Văn Đồng ( thường gọi Đồng Rỗ) hồi chiến tranh.

3. Những cách nghĩ về tương lai

Xóm làng xã biển tỉnh lặng vô cùng. Mỗi ngày chỉ có một chuyến xe đò nối  Bình An với  Huế. Chiều xuống, học trò bãi học ra vây quanh chiếc xe như đón mẹ đi chợ về. Xã Vĩnh Lộc có hơn 5000 dân, phần lớn sống nhờ vào biển, những người không đi biển được sống bằng nghề nông. Đất vùng biển chua phèn, cây cối mọc không nổi. Nhiều gốc chổi gốc tràm " cổ thụ" quắt queo, chỉ cao vài gang tay, người  ta hay bới về làm cây cảnh. Những người không có thuyền đi biển, không có đất canh tác thì  đi  nhặt lượm phế liệu chiến tranh dọc các triền núi ven biển. Có khoảng 60 người chịu cực không nổi vượt biên qua Hồng Kông, nay trở về được tổ chức EC giúp đỡ, đời sống có khá hơn, nhưng chắc không được lâu. Bởi thế dân xã nghe nói quê hương mình  đang được nghiên cứu làm cảng nước sâu và khu công nghiệp hiện đại ai ai cũng khấp khởi mừng thầm. Bác Nguyễn Văn Nẫm, 74 tuổi, một trong những nông dân cao niên ở Bình An, có hai con liệt sĩ  bảo chúng tôi: " Trải qua những ngày gian khổ, được  ngẩng đầu lên nhìn thấy độc lập là sướng quá rồi, không ngờ ngày hôm nay lại có chuyện cảng nước sâu, thật may mắn cho các lớp con cháu ! ". Chúng tôi vào cái quán ở ngay ngã ba Bình An- Cảnh Dương. Trong lúc giải khát tôi hỏi cảm nghĩ của anh chủ quán Mai Tuấn về cảng nước sâu Chân Mây, anh vui vẽ nói :" Vợ chồng tôi làm ăn ở TP Hồ Chí Minh, cách đây mươi năm nghe bà con nói cán bộ ngoài Bắc vào đo đạt vùng nầy. Tôi nghĩ thế nào Vĩnh Lộc cũng được  chọn làm khu du lịch nên đưa gia đình về  đây. Chúng tôi chuẩn bị cả rồi, máy ảnh xịn, điện thoại đường dài... Nhưng không ngờ lại có thêm chuyện cảng nước sâu".  Không chỉ có anh chủ quán ấy có cái nhìn xa thấy rộng, mà đã có ba bốn chục cán bộ, dân làng  cũng  đã  biết đón bắt  tình hình bằng cách chen vào rừng dương be bờ cắm cọc làm nền nhà dọc hai bên con đường Bình An dẫn lên bãi biển Cảnh Dương. May mắn là ngành lâm nghiệp đã chận lại kịp thời. Bộ đội đồn biên phòng 232 đóng ở Cảnh Dương bảo chúng tôi: " Nếu nhà  nước không qui hoạch quản lý từ đầu thì thế nào cũng xãy ra cơn sốt đất. Cơn sốt đó sẽ làm trở ngại cho việc xây dựng sau nầy". Cùng trong ý nghĩ ấy, một ông bạn thân của tôi ở địa phương bảo tôi:" Anh đã chiến đấu cực khổ ở đây, anh xứng đáng được có một mảnh đất để cho con cháu sau nầy". Tôi cám ơn:" Nếu cần thiết cho nghề cầm bút, tôi sẽ xin".

Có công việc ở Huế chúng tôi phải rời Chân Mây sớm hơn dự định. Số phim còn lại trong máy chúng tôi đem chụp cảnh những xóm làng tiêu điều, những bãi cát phẳng lặng, những rừng cây khẳng khiu của Vĩnh Lộc. Thông tin của những ảnh nầy không có gì đặt biệt nên khó đưa lên báo, nhưng biết đâu sau nầy những kho bãi, những nhà máy hiện đại mọc lên ở đây, những ảnh ấy trở nên vô giá. Chúng tôi cũng  thu vào máy con đường mang tên Đỏ. Nếu kế hoạch cảng nước sâu trở thành hiện thực, con đường nầy sẽ nối với đường Liên Á  qua Quốc lộ 1A  đến các nước Đông Dương, Thái Lan và xa hơn nữa. Chưa bao giờ ở quê tôi lại có một dự án phát triển kinh tế được mọi người tin tưởng vui mừng như dự án cảng nước sâu và khu công nghiệp Chân Mây.

Xe chạy theo nước mã hồi đều đều năm sáu mươi cây số giờ. Nghĩ về tương lai, tự nhiên tôi giảm tốc độ.
Chân Mây gần hay xa?

Huế, tháng 1/1996
Nguyễn Đắc Xuân

 
 
Các bài Phóng sự - Bút ký khác
Các bài Giữ hồn cho Huế