Thành nhà Hồ giấc ngủ sáu trăm năm
Thời làm báo Lao Động tôi có dịp đến nhiều địa phương ở miền Trung và Tây Nguyên. Tôi phát hiện được độ chênh giữa kiến thức lịch sử văn hóa ở các địa phương trong sách vở và thưc tế nhãn tiền. Tôi đưa cái độ chênh ấy vào nhiều phóng sự từng được người đọc quan tâm. Tôi nhớ nhất là các bài Săn tìm ảo ảnh kho báu Chămpa (số 23/03 ngày 21-3-1993) viết về thành Hoàng Đế ở Bình Định, Nỗi buồn bia đá (số 42/93,ngày 27-5-93) ở Văn Thành Huế, Thành Nhà Hồ giấc ngủ sáu trăm năm (số 53/93 ngày 24-6-93) ở Thanh Hóa. Tôi nhớ ba phóng sự ấy là vì sau đó trong thời gian dài ngắn khác nhau, cả ba di tích ở ba địa phương đều được trùng tu, tôn tạo, được quốc gia và quốc tế công nhận là di sản quốc gia, di sản thế giới. Về cuối đời tôi rút ra được một trải nghiệm: chuyện ở các địa phương cũng như chuyện của đất nước, mình có hiểu thì mình mới yêu. Có yêu mới trăn trở giải trừ được cái xấu và giữ gìn cái hồn cho nước. Chuyện đơn giản thế mà…

 

Biết tôi tha thiết muốn đi xem Tây Đô, một ông bạn ở Thanh Hóa bảo:

- Từ thị xã Thanh Hóa phải đi gần 50 cây số lên phía Tây - Bắc mới xem được. Đường đi vất vả lắm. Nghe nói chỉ có mấy dãy thành đá chứ có gì đẹp đâu mà xem!

- Mấy dãy thành đá mà tồn tại 600 năm cũng đáng xem lắm chứ!

Tôi đáp và chia tay ông bạn.

Hôm sau, tôi đi Tây Đô với một nhà nghiên cứu sử học ở địa phương và hai nhà báo.

‘’Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi”

Chúng tôi dùng hai chiếc xe Honda. Rời thị xã lúc trời vừa sáng. Khi mặt trời ngoi lên ở bãi biển Đồ Sơn thì chúng tôi đã đến ngã ba Đông Sơn. Chúng tôi rẽ vào tỉnh lộ ở bên phải. Đường được dùng làm sân phơi đầy rơm rạ và lúa mới gặt. Hai chiếc Honda nhảy chồm chồm trên những ổ gà, ổ voi ngầm dưới rơm; chốc chốc chúng lại xốc ngược lại như trong cỗ máy bị mắc xương. Đến ngã ba Chè lại rẽ phải. Chạy một đoạn nữa lại xuống xe dắt qua cầu phà Vạn. Mặt cầu bện bằng thân tre nứa, chật và ọp ẹp. Nếu sơ ý, người và xe được uống nước sông Chu ngay. Qua hết cầu lên đất huyện Thiệu Yên. Đi qua huyện thì đến phà Kiều bắc qua sông Mã.

Qua khỏi cầu phao sông Mã, tôi tâm sự với Lê Tạo - anh bạn nghiên cứu sử ngồi sau lưng:

- Đường đi lắm sông nhiều phà như thế này nên ít có người lên viếng Tây Đô. Bây giờ mà còn như thế này nói chi đến chuyện ngày xưa.. .!

- Hôm nay may mà trời mát, ít bụi đi khỏe - Lê Tạo nói vào tai tôi. Trời nắng rát lắm. Trái lại trời mưa thì đợi cả buỏi chưa qua được sông. Hôm nay trời thương anh lắm đó!.

Đúng là trời thương chúng tôi. Chiếc Honda da cứ ‘’ phi nước đại’’. Chúng tôi đã vào lãnh thổ của huyện Vĩnh Lộc. Những rặng núi đá vôi tim tím, sắc cạnh phân tầng, chia khối hiện ra trước mắt. Những ruộng lúa chín vàng bao quanh dưới chân núi giống như tranh vẽ. Tôi cảm thấy thích thú.

Sống ở đây con người phải văn minh ra! Tôi không ngờ xứ Thanh lại có một vùng thiên nhiên hùng vĩ như thế này. Thảo nào ngày xưa vua Lê Thánh Tôn đã đến đây và nhận xét rất đúng "cảnh trí ở đây như có qủy thần soi tạc". Nếu có tiền ta thuê thợ tạc những khối đá tầng tầng lớp lớp kia thì sẽ có một kỳ quan ngay! Nhà Hồ xây dựng Tây Đô ở vùng này đúng quá!

Tôi dừng xe chụp một vài kiểu ảnh. Anh Nguyên Ngữ ở báo VHTT tỉnh Thanh chỉ ngọn núi đồ sộ ở bên tay phải bảo tôi:

- Đây là dãy Xuân Đài nổi tiếng từ xưa. Dưới chân núi có chùa Du Anh, trên lưng chừng núi có động Hồ Công được người xưa liệt vào ‘’ kỳ quan bậc nhất’’

Thành nhà Hồ - kinh đô nước Đại Ngu

Đi qua chợ Vĩnh Lộc vài trăm mét, một tòa thành đá tím sẫm có trổ vòm tam quan sừng sững án ngữ phía trước. Tôi đã đọc hàng trăm tài liệu về thành nhà Hồ nhưng chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng nó to lớn đến như vậy. Cửa vòm tam quan rộng 38m, cao đến hơn 10m toàn bằng đá. Cả ba vòm cuốn đều rộng 5,8m, vòm giữa cao 8,5m, hai vòm bên cao 7,8m. Những viên đá ghép thành vòm cuốn được đẽo gọt thành hình múi bưởi nêm chặt vào nhau.

Lê Tạo bảo tôi nhìn lên trên đỉnh tam quan và nói:

Đây là cửa chính Nam, trên ấy ngày xưa có xây vọng lâu bằng gỗ. Phần đá còn lại chỉ là cái móng cũ. Toàn bộ kiến trúc phòng thành, vọng lâu bằng gạch và bằng gỗ đều đã bị hủy diệt.

Tôi liên tưởng đến cái đế vững chắc của cửa Ngọ Môn Huế. Cửa này xây sau cửa Nam Tây Đô đến hơn 450 năm.

Chúng tôi lên thành hướng mắt ra chung quanh. Thành hình chữ nhật (900m x 700m), bốn mặt đều có trổ cửa vòm, các cửa đều có núi đồi làm bình phong ở xa xa. Hai con sông Mã, sông Chu hội lại thành một dòng ở phía trước mặt. Sách Địa Dư Chí của Phan Huy Chú (thế kỷ XIX) cho biết: “Thành rộng đến 300 mẫu, cách con đường ra ngoài thành đều có lát đá hoa’’. Sách Đại Việt Sử Ký toàn thư viết  “Mùa đông, tháng 11 (1937), Quý Ly sai dỡ các cung điện Thụy Chương, Đại An (ở Thăng Long), bao nhiêu gạch ngói gỗ to.. . đều chở vào Kinh đô mới (t.2, tr.222). Những vật liệu ấy góp vào việc xây dựng điện Hoàn Nguyên, cung Phù Cực, Tây Thái miếu.. . Tất cả những kiến trúc đó không còn nữa, nhưng khuôn viên nền móng của chúng còn lưu lại những bờ vùng, bờ thửa ruộng vườn bên trong di tích Thành nhà Hồ hiện nay. Năm 1938, người ta đã tìm thấy dưới những thửa ruộng ấy có hai bậc thành (échiffre descalier) cung điện chạm rồng và đã đem ra dựng ở hai bên đoạn đường “thiên lý’’ nối liền hai cửa Nam - Bắc. Người ta cũng tìm được nhiều lọai gạch trang trí, bát, đĩa, đầu rồng, mũi giáo.. . thấy cả môt thành bậc chạm con sấu. Hai con rồng thành bậc cung điện nói trên đều bị mất đầu, thân phủ vẩy kép, bờm uốn nhịp nhàng, lượn bảy khúc, chân ba móng, đo được 3m4. Đó là một nét rồng hồi tưởng thời Lý. Hỏi lý do vì sao đầu rồng bị mất, một nông dân địa phương đáp:

Hai con rồng này hay phun lửa gây hỏa họan ở các làng xã phía Nam nên nhân dân phải trị chúng!

Đó là cách giải thích theo mô-típ dân gian; trong thực tế lịch sử, việc triều đại sau hủy diệt những thành tựu văn hóa của triều đại trước vì một lý do nào đó vẫn thường xảy ra.

Từ ngày Trần Thiếu Đế được nhường ngôi (1398) cho đến lúc nhà Hồ bị diệt (1407), vai trò thủ đô của Tây Đô không đến mười năm. Tuy vậy, ở đây cũng đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Sau khi nhà Hồ trị vì nước ta mới bắt đầu tế Giao, mở “đường phố” manh nha cho một đô thị mới ở Tây Đô, phát hành tiền giấy, cấp học điền cho học sinh, đặt chức học quan ở các lộ, mở các khoa thi chọn Cống sinh và Thái sinh học (Tiến sĩ), xuất quân đánh Chiêm Thành lấy được đất Chiêm Động và Cổ Lũy…Sự kiện cuối cùng là ở một địa phương không xa Tây Đô, Lê Lợi đã bắt đầu cuộc kháng Minh.

Cha con Hồ Quý Ly là những người giỏi kinh tế, giỏi toán học, có tài năng trong việc thiết kế xây dựng phòng thành như Tây Đô. Nhưng tại sao họ lại chọn lên nước là Đại Ngu? Có phải vì khiêm tốn không? Từ đầu thế kỷ trước Phan Huy Chú đã giải đáp câu hỏi này.

Quý Ly vốn là người họ Hồ ở Chiết Giang, thời hậu Hán sang lập nghiệp ở Diễn Châu (Nghệ An), người cháu 12 đời dời nhà ra Đại La (Thanh Hóa) làm con nuôi con Tuyên úy họ Lê nên đổi làm họ Lê. Quý Ly là cháu bốn đời của họ này. Khi chiếm được ngôi báu của nhà Trần, Quý Ly phục lại họ Hồ gốc của mình. Bên Tàu có chuyện vua Nghiêu trao ngôi cho vua Thuấn để lập nên nhà Ngu. Gốc của nhà Ngu là họ Hồ. Quý Ly cho rằng mình cũng được nhà Trần trao ngôi giống như vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn. Quý Lý cũng dòng họ Hồ giống như nhà Ngu. Vì thế Quý Ly đổi tên nước là Đại Ngu. Quý Ly tự hào là cháu của vua Thuấn ở bên Tàu. Oái ăm thay, cha con Hồ Quý Ly lại bị chính những người cháu chắt của Nghiêu Thuấn bên Tàu tiêu diệt. Nhà Hồ chết yểu vì không được lòng dân.

Những bí ẩn

Chúng tôi đi men theo các bờ thành thẳng đứng, chu vi thành đo được 3.200m, chỗ bình thường cao bốn mét, có chỗ sáu mét, ở các cửa cao hơn nhiều. Thành cấu tạo bởi 20.000 m3 đá xanh xếp chồng lên nhau. Các khối đá được đẽo gọt sắc cạnh, ghép vào nhau sít sao, đường biên của các khối đá tạo thành những đường trang trí đẹp mắt. Mỗi khối đá xây thành phổ biến có kích thướng 1,4m x 1m x 0,7m. Ở thành phía Tây có nhiều khối đá lớn gấp bội, chiều dài mỗi viên hơn ba sải tay. Theo tính toán của L. Bezacier (Essais sur l’art annamite, Hn.1944) nhiều khối đá xây thành nhà Hồ nặng khoảng 16 tấn. Cách đây sáu thế kỷ, cha ông chúng ta đã dùng phương tiện gì để di chuyển những phiến đá to nặng như thế? Bên trong lớp vỏ xếp bằng đá khối đó là 80.000m3 đất. Tất cả công việc này quan quân nhà Hồ đã hoàn thành trong thời gian kỷ lục “ba tháng đầu năm Đinh Sửu, 1397’’. Đây là những bí ẩn chưa có lời giải đáp đồng thời cũng là niềm tự hào của chúng ta.

Tiếc thay vì nhiều lý do khác nhau, di tích lịch sử tuyệt vời này đã không được gìn giữ, tôn tạo. Ở phía Bắc, nhiều khối đá bị đập vỡ và mang đi, nhiều chỗ bị đào bới, hệ thống hào phòng vệ bên ngoài (rộng từ 30m đến 50m) bị vùi lấp, vòng la thành bị làm biến dạng, 14 ngôi chùa bên ngoài thành bị phá hủy lấy gỗ làm chất đốt nung gạch.. .

Thủ phạm phá hoại Thành nhà Hồ đầu tiên là quân Minh dưới sự chỉ huy của Trương Phụ (cuối năm 1407). Khi diệt được nhà Hồ, quân Minh đã đổi kinh đô nước Đại Ngu thành thủ phủ của phủ Thanh Hóa.Và mới đây (1965-1966) nhiều tán bom của không quân Hoa Kỳ đã trút xuống bức thành lịch sử vô tội này. Nếu đề cập đầy đủ hơn thì phải kể đến những người làm đường đã hủy hoại nhiều đoạn Thành để lấy đất đắp cho con đường Bắc Nam đi qua di tích này.

Thành xây xương lính

Trong khi cạy đá, xúc đất người ta bắt gặp nhiều đốt xương ngón tay, ống chân….chứng tỏ người xưa đã làm việc rất nặng nhọc và luôn gặp phải tai nạn lao động. Ở một chỗ tường đá lở người ta thấy một bộ xương người bị đè giữa hai khối đá. Có lẽ người xấu số đã bị đè khi kê vai khiêng xếp những ngối đá chồng lên nhau. Người lao động không những chết vì tai nạn, vì bị làm việc quá sức, vì bệnh họan mà còn chết vì sự cưỡng bức của vua quan nhà Hồ. Người ta kể ngày xưa trên cửa Tây có một vết lõm sâu vào vách đá và sử sách nói rõ vết lõm ấy là dấu tích Bình Khương Nương. Bấy giờ có người cống sinh là Bình Khương đứng ra đốc công xây dựng (Tây Đô) thường kêu ca về việc đắp thành này. Quý Ly nổi giận liền sai bắt người cống sinh đó chôn sống vào chỗ thành còn khuyết. Người vợ thương chồng hàng ngày ra nơi đó đập đầu vào đá rồi hai tay ôm đá than khóc mà chết. Vì thế phiến đá lõm xuống in hình cái đầu và cả hai vết bàn tay rõ như hệt. Đầu thế kỷ XX người ta gỡ phíến đá ấy và đưa vào lập đền. Đền thờ Bình Khương Nương được nhân dân chăm sóc hương khói không khi nào ngớt. Biết bao văn nhân thi sĩ đã ngâm vịnh về đề tài Bình Khương Nương.

Nghe lại chuyện cũ ngay bên Thành nhà Hồ, tôi không cầm được nước mắt. Lúc ấy trời cũng đổ mưa. Chúng tôi phải vào trú ở cửa Tam Quan. Nước mưa men theo kẽ đá chảy xuống thành dòng như những dòng lệ sót của những oan hồn bị chôn vùi trong thành đá tuôn ra!

Người giữ thành đá

Ông Trương Hải Bằng là một người địa phương, chừng 60 tuổi, trong một ngôi nhà lụp xụp ngay bên trong cửa Nam thành nhà Hồ. Ông vừa làm việc vừa tiếp chúng tôi. Ông nói vanh vách về di tích lịch sử này và luôn kèm theo những lời bình luận sắc bén. Trả lời một câu hỏi của chúng tôi về việc bảo vệ Thành nhà Hồ, ông nói:

- Trước kia dân chúng ở đây phá dữ lắm. Nhưng bây giờ thì họ biết rồi, không ai dám đụng đến nữa!

Đó là sự thật. Chúng tôi đi quanh khu Tây Đô, ngoài những đoạn thành sụp đổ, nghiêng ngã do đất lún, lũ lụt, chiến tranh, sự tàn phá của con người trước đây, không hề thấy một vết tích vi phạm nào mới. Đến chào huyện Vĩnh Lộc, chúng tôi không giấu được sự vui mừng khi thấy người dân Vĩnh Lộc đã biết giữ gìn di tích lịch sử của cha ông mình. Kỹ sư Trần Minh Báo, Chủ tịch UBND huyện đọc một câu thơ của Huy Trụ:

- “Tiết trinh còn một mảnh gương đá chìm’’ - và anh nói tiếp:

- “Chúng tôi thực hiện lời dạy của Lê-nin, phải khắc phục cái ngu xuẩn trong quá khứ của mình. Tuy nhiên, cây lúa của Vĩnh Lộc cũng chỉ đủ sức bảo vệ những gì hiện có, còn việc tôn tạo Thành nhà Hồ để xứng đáng với niềm tự hào của dân tộc, để giới thiệu với đồng bào trong nước và khách nước ngoài như lâu nay họ đã đến đây thì xin nhờ báo chí thông tin đến những cơ quan hữu trách, đến những nhà hảo tâm. Rời Vĩnh Lộc mang theo lời nhắn nhủ của anh Báo, tôi cảm thấy nặng trĩu trong lòng.

Nguyễn Đắc Xuân

( Lao Động số ra ngày 24.6.1993)

 

 
 
Các bài Phóng sự - Bút ký khác