“Kẻ sĩ”
Kính gởi nhà báo Hoàng Hoài Sơn, Báo Thể Thao và Văn Hoá Theo yêu cầu của anh, tôi gởi anh câu trả lời của tôi về Kẻ sĩ xứ Huế sau đây:

“Tôi hiểu kẻ sĩ (sĩ hiền) là người có học vấn, có khí tiết, biết tự trọng giữ gìn phẩm chất, sẵn sàng hy sinh để giữ khí tiết của mình. “Sĩ khả lục, bất khả nhục”(kẻ sĩ có thể giết được chứ không thể làm nhục được). Kẻ sĩ do khí thiêng sông núi tạo nên, được các tầng lớp nhân dân tôn trọng. Kẻ sĩ của Cố đô Huế của văn hoá Huế là sâu lắng (tính chất phương Nam) và quyết liệt dữ dội (phương Bắc).

Cụ Hồng Khẳng con trai Tùng Thiện Vương, cháu nội vua Minh Mạng, làm quan to, nhưng có nhân sinh quan kẻ sĩ, ông đã từ quan để bỏ vệ những người yêu nước hồi đàu thế kỷ XX. Ảnh BAVH

Qua hai thế kỷ vừa qua, những người được xem như kẻ sĩ Huế là các ông Thân Văn Nhiếp (quan lại triều Tự Đức), Nguyễn Lộ Trạch (nhà văn vận động Duy Tân), thầy giáo Hoàng Thông (thầy dạy chữ Hán Nguyễn Sinh Cung tại trường Quốc Học), nhà văn Bửu Đình, nhà báo Phạm Bá Nguyên, thầy giáo Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ Lê Khắc Quyến (và còn nhiều người nữa tôi chưa có dịp nghiên cứu).

Kẻ sĩ ở các địa phương khác phần lớn ở ẩn, bất hợp tác với chính quyền, đại đa số kẻ sĩ Huế tham gia với chính quyền. Trong đời sống bình thường thì họ nêu một tấm gương tốt về trí tuệ, liêm chính, tìm mọi cách đào tạo con người tiến bộ (Hoàng Thông, Dương Kỵ), khi cần thiết dâng lời nói thẳng, không sợ mọi hậu quả xấu sẽ đến với mình. Thân Văn Nhiếp phê bình tính lười biếng và xa xỉ của vua Tự Đức, và sẵn sàng nhận hậu quả xấu nhất với câu nói nổi tiếng: “Vua có nước mà chẳng tiếc, làm tôi đâu dám tiếc cái chết để không dám nói thực”. Bửu Đình từ chối mọi lời mua chuộc của Triều Nguyễn, bị bắt đi tù Lao bão, Côn Đảo. Ở trong tù ông viết sách gởi ra, tìm cách vượt Côn đảo và chấp nhận cái chết trên biển chứ không chịu khuất phục.

Nguyễn Đắc Xuân

 
 
Các bài Người ấy trong tôi