Đỗ Bang (I): Lịch sử Phật giáo Thừa Thiên Huế không phải chỉ như thế
Vào cuối năm 2000, nhà xuất bản Thuận Hoá ở Huế cho ra đời công trình Từ điển Lịch sử Thừa Thiên Huế (viết tắt TĐ) do Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế và Trường Đại học Khoa học Huế đồng chủ trì, Tiến sĩ Đỗ Bang chủ biên, dày gần 1200 trang, "nhằm cung cấp thông tin đa diện về lịch sử và văn hóa, không những đối với nhân dân trong tỉnh, trong nước và sự hâm mộ của hàng triệu người yêu Huế trên thế giới mà còn phục vụ cho hàng chục ngàn lượt du khách đến thăm Huế hàng năm" (trích Lời mở đầu của Tiến sĩ Đỗ Bang, tr.5).

Nhưng rất tiếc công trình nầy được biên soạn không được như ý nên đã bị báo chí phê bình về nhiều mặt như Từ điển mà không thể sử dụng để tra cứu được, đặt tên các mục từ không đúng, tài liệu tham khảo nghèo nàn, cũ và không được xử lý một cách khoa học nên dẫn đến viết sai nội dung các mục từ. Về chỗ đứng của các soạn giả cũng không rõ nhiều mục từ lẫn lộn trắng đen. Tuy thế những người có trách nhiệm không thấy những thiếu sót nghiêm trọng của mình để khắc phục hậu quả mà vẫn tìm mọi cách phát hành rộng rãi cuốn Từ điển kém phẩm chất ấy. Về những sai sót của cuốn TĐ báo chí đã nói nhiều, riêng bài viết nầy chúng tôi chỉ đề cập đến một số điều bất cập của cuốn Từ điển về những thông tin liên quan đến lịch sử Phật giáo TTH. Những điều bất cập của TĐ về lịch sử Phật giáo TTH biểu hiện dưới các dạng sau đây:

Đỗ Bang (Chủ biên), Từ Điển Lịch Sử Thừa Thiên Huế, Nxb Thuận Hóa 2000

          1. Thừa và thiếu: TĐ có 1588 mục từ mà đã dành cho chùa Thiên Mụ đến 7 (bảy) mục từ: Xây dựng chùa Thiên Mụ (tr.461),Thiên Mụ (chùa) (tr.782), Đúc chuông chùa Thiên Mụ (tr.205), Bảo quản ở Tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ (1885) (tr.21), Trùng tu chùa Thiên Mụ (1665) (tr.437), Trùng tu chùa Thiên Mụ (1714) (tr.437), Trùng tu chùa Thiên Mu (1815) (tr.438). Sao không dồn cả 7 mục từ đó vào mục từ Thiên Mụ (chùa)? Huế là một trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam, tại sao viết chùa Diệu Hỉ (tr.570), chùa Qui Thiện (tr.759) mà không có chùa Diệu Viên, chùa Hồng Ân của Sư bà Diệu Không, Tịnh thất Hoàng Mai của Sư bà Cát Tường ? Theo tiêu chí cỡ chùa Diệu Hỉ thì có thể viết thêm trên 50 mục từ về chùa ở TTH nữa. Điều khó hiểu là các soạn giả đã bỏ qua các chùa Trúc Lâm, chùa Vạn Phước và hàng chục ngôi chùa cổ khác đã có rất nhiều quan hệ với lịch sử TTH ! Ví dụ như chùa Phước Thành (176/1 Phan Châu Trinh) của bà Ngọc Cầu - "thứ phi" của Võ Vương Nguyễn Phúc Hoạt (Khoát), chùa cổ Đông Thuyền do Công chúa Ngọc Ky trùng tu năm 1842, chùa Pháp Vân (thường gọi là chùa Khoai) - nơi đặt "bản doanh" của Đông Sơn thi tửu hội của anh em Đoàn Hữu Trưng và Đoàn Hữu Trực - những chủ tướng của cuộc nổi dậy chống vua Tự Đức năm 1866; chùa Thiên Hoà của Phủ Tuy Lý Vương, chùa Phước Duyên - nơi tu học của Đại Đức Thích Thanh Tuệ - người đã tự thiêu chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm vào ngày 13 tháng 8 năm 1963, chùa Tăng Quang - một cơ sở cách mạng, nơi tiếp tế và cứu chữa thương binh trong Chiến dịch Tấn công nổi dậy hồi tết Mậu Thân 1968 v.v..(*) Vì sự hiểu biết hạn chế hay vì một lý do cá nhân nào khác ?

Viết về chùa Bà (Thiên Hậu Cung, tr.781) sao có thể bỏ sót Chùa Ông và các chùa Tàu nổi tiếng trên đường Chi Lăng như chùa Quảng Đông (157-159, Chi Lăng), chùa Bà Hải Nam (205, Chi Lăng), chùa Phúc Kiến ( 213 Chi Lăng)... Những chùa Tàu nầy có thua gì những chùa Tàu ở Hội An trong quần thể di tích được công nhận là di sản thế giới ở Hội An đâu ?

          Khi các soạn giả đã viết Lê Đình Thám (tr.955), Thích Mật Thể (tr.1104) tại sao lại không viết Sư bà Diệu Hương, Sư bà Diệu Không là những người đã có một ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Huế và Việt Nam thế kỷ XX ?

         2. Nội dung đá nhau và không đúng với sự thật lịch sử: Mục từ "Thành lập Hội chấn hưng Phật giáo ở Trung kỳ", TĐ viết :"Năm 1933, thực dân Pháp lập ra Hội chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ, nhằm lợi dụng tôn giáo để tách quần chúng ra khỏi ảnh hưởng của phong trào cách mạng"(tr.385).

         Đoạn sử nầy có hai điều sai: Sai thứ nhất là nó mâu thuẫn ngay với nội dung mục từ Lê Đình Thám (1897-1969(tr. 956). TĐ viết: "Ông (Lê Đình Thám) là nhân vật chủ chốt của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Huế". Viết như vậy chứng tỏ ông Lê Đình Thám là người của thực dân Pháp, và chúng đã đưa ông ra làm nhân vật chủ chốt của một phong trào phản cách mạng. Sự thật lịch sử thì ngược lại. Lê Đình Thám là một Cư sĩ Phật giáo suốt đời yêu nước. Bởi thế Lê Đình Thám mới được Từ điển Lịch sử Thừa Thiên Huế do Đỗ Bang chủ biên xem ông là một nhân vật lịch sử (yêu nước).

        Sai thứ hai không có chuyện thực dân Pháp lập ra "Hội chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ". Theo bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang (Văn học, HN.1994) ở Huế xưa nay chưa hề có một tổ chức nào được thành lập mang tên là "Phong trào chấn hưng Phật giáo" cả. Chỉ có việc vào năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời do Hoà thượng Giác Tiên đứng đầu, trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. An Nam Phật học hội là một tổ chức xã hội mà không bị thực dân Pháp cài mật thám vào. Năm 1935, An Nam Phật học hội đã tổ chức một đại lễ Phật đản chưa từng có ở nơi mệnh danh là Kinh đô Phật giáo Huế. Đây là cuộc biểu dương lực lượng đầu tiên của Phật giáo Trung kỳ. An Nam Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không..., các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác...An Nam Phật học hội ra báo Viên Âm, tổ chức các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách. Phải chăng các Phật sự ấy đã gây nên Phong trào chấn hưng Phật giáo ? TĐ viết mục từ "Đấu tranh chống Mỹ Diệm khủng bố tôn giáo (1963)"(tr.188). Năm 1963, cuộc vận động của Phật tử Huế chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo chứ làm gì có chuyện chống Mỹ Diệm khủng bố tôn giáo ? Cuộc vận động đó được Mỹ ủng hộ kia mà ? Đi từ đấu tranh dân chủ (chống kỳ thị tôn giáo) lên đến đấu tranh dân tộc (chống Mỹ) là cả một đoạn đường dài của Phong trào đô thị chứ đâu mà dễ dàng đến thế ? Đặt tên cái mục từ nầy chứng tỏ người biên soạn không hiểu gì lịch sử đấu tranh của Huế cả nên đã vô tình xuyên tạc lịch sử.

        3. Có tài liệu nhưng không xử lý được tài liệu, gây rối loạn lịch sử: Về các Phong trào đấu tranh của Phật tử và sinh viên học sinh Huế trong hai năm 1964 và 1965, TĐ LSTTH viết 3 sự kiện ghi theo số trong Bảng tra mục từ là:

283) Đấu tranh chống Mỹ đòi Trần Văn Hương từ chức (1964) (tr.188);

285) Đấu tranh chống Mỹ của sinh viên Huế (1964,1965) (tr.190);

288) Đấu tranh đòi hủy bỏ "Hiến chương Vũng Tàu"(1964) (tr.191).

          Lịch sử Thừa Thiên Huế trong thời gian cuối năm 1964 và đầu năm 1965 đã diễn ra Phong trào đấu tranh mang tính quốc gia là đòi hủy bỏ "Hiến chương Vũng Tàu" của tướng Sài Gòn Nguyễn Khánh (kéo dài từ 20.8.1964 đến tháng 10.1964) và Phong trào đấu tranh đòi cách chức Thủ tướng Sài Gòn Trần Văn Hương (kéo dài từ cuối tháng 12.1964 đến cuối tháng 1.1965). Đó là hai sự kiện quan trọng, TĐLSTTH dù viết chưa đúng nhưng cũng đã soạn thành hai mục từ sự kiện 283) và 288). Nhưng không hiểu mục từ sự kiện 285) Đấu tranh chống Mỹ của sinh viên Huế (1964,1965) (tr.190) thuộc về phong trào nào ? Phải chăng do không nghiên cứu nên soạn giả đã cắt một phần của sự kiện trước 283) và một phần của sự kiện sau 288) làm thành sự kiện 285). Viết như thế có phải là làm nhiễu loạn lịch sử. Viết về chùa Kim Tiên sách ĐNNTC bản đời Duy Tân được các soạn già dùng thường xuyên đã ghi rất rõ "Tương truyền chùa nầy do Hoà thượng Bích Phong làm ra" (Thừa Thiên tập Thượng, bản dịch của Nguyễn Tạo, tr. 86). Nhưng với mục từ Kim Tiên (Chùa) (tr. 651), TĐLSTTH viết: "Không rõ ai khai sơn."

         4. Xem nhẹ các phong trào đấu tranh bảo vệ 'quyền dân tộc tự quyết' của Phật tử Huế: Thừa Thiên Huế có Huế là một trung tâm Phật giáo quan trọng nhất ở miền Nam Việt Nam. Cuộc vận động của Phật giáo Huế chống chính thể Ngô Đình Diệm và các chính quyền tay sai sau Diệm đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử các Phong trào đấu tranh ở Đô thị miền Nam từ 1963 đến năm 1975. Thế nhưng có thể nói các di tích và con người theo đạo Phật ở Huế trong các cuộc đấu tranh từ 1963 đến 1975 đã bị quên lãng. TĐ không hề nhắc đến các nhà sư đã tự thiêu chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và các chính phủ tay sai Mỹ như Đại đức Thích Thanh Tuệ (chùa Phước Duyên), tự thiêu ngày 13.8.1963, Thượng tọa Thích Tiêu Diêu (chùa Từ Đàm), tự thiêu ngày 16.8.1963; Sư cô Thanh Quang (tự thiêu tại chùa Diệu Đế vào ngày 29 tháng 5.1966), nữ học sinh Nguyễn Thị Vân, tự thiêu ngày 31.5.1966, Đại đức Thích Chơn Thể (chùa Tường Vân) tự thiêu ngày 9.5.1971 v.v. và v.v. Những người Phật tử đó hy sinh bên lề lịch sử Thừa Thiên sao? TĐ viết về nhà thờ Tây Lộc mới xây năm 1966 để thờ "các Thánh tử đạo" (tr.765) của Thiên chúa giáo, nhưng lạ thay các nhà soạn TĐ không quan tâm gì đến tháp bia kỷ niệm những người Thánh tử đạo Phật giáo chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm từ năm 1963 dựng trước Đài phát thanh Huế - nơi mọi người Huế thường qua lại hằng ngày. Theo tiêu chí của TĐ nêu ở Lời mở đầu là TĐ "chỉ tuyển chọn những mục từ có quá trình và nội dung lịch sử" (tr.7). Phải chăng tháp bia kỷ niệm những người Thánh tử đạo Phật giáo chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm không có quá trình và nội dung lịch sử ?

         Bài viết nầy chỉ mới trích một số ví dụ để dẫn chứng chứ thật sự chưa thể kê cứu hết những bất cập về lịch sử Phật giáo TTH của TĐ. Cách đây gần ba thế kỷ nhà văn Pháp J.B.Bossuet (1627-1704) có lời báo động rằng :"Từ ngày có những nhà viết sử thì không còn sử nữa" (Depuis qu' il y a des historiens, il n' y a plus d' histoire). Rất mong các nhà sử học biên soạn TĐ ngày nay đọc lại lời báo động của Bossuet mà có biện pháp viết lại cuốn TĐ để cho lịch sử TTH nói chung và lịch sử Phật giáo TTH nói riêng khỏi rơi vào hoàn canh " không còn sử nữa".

                                                                                                                                                   Tháng 3/2001

 

 
 
Các bài Phản biện khác
Các bài Lịch sử
Các bài Giữ hồn cho Huế