Nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh về hưu năm nào?
Ông Nguyễn Hiển Dĩnh (1853-1926) - quan lại triều Nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng ở Quảng Nam hồi đầu thế kỷ XX. Từ sau năm 1975 đến nay, tại Quảng Nam Đà Nẵng đã tổ chức hai hội nghị khoa học trình bày về cuộc đời và sự nghiệp hát bội của ông. Quỹ Toyota của Nhật Bản cũng đã tài trợ một số tiền lớn để nghiên cứu tiếp về Nguyễn Hiển Dĩnh. Song, trong tiểu sử của ông vẫn còn có nhiều sự việc chưa rõ ràng. Do đó có người tôn ông là danh nhân văn hóa dân tộc người thì chứng minh ngược lại. Nguyễn Hiển Dĩnh mới ra đi (1926) chưa đầy 3/4 thế kỷ. Không nên lưu những tồn nghi mới như thế cho thế kỷ sau. Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề nầy chúng tôi khởi đăng một số ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân sau đây. Rất mong các nhà nghiên cứu xa gần tiếp tục đóng góp ý kiến.

Ông Nguyễn Hiền Dĩnh

Vừa rồi ông Hoàng Châu Ký trả lời báo Đà Nẵng cuối tuần ( 25.4.99) cho biết ông đang xin tổ chức một hội thảo nữa tại Quảng Nam về NHD. Hưởng ứng chủ trương mở thêm một hội nghị khoa học về NHD, tôi xin nêu một nghi vấn có liên quan đến cuộc đời của ông NHD để  những người tổ chức tham khảo đưa vào nội dung của hội thảo sắp tới: Ông Nguyễn Hiển Dĩnh về hưu năm nào?

Trong bài Hát bội ở Quảng Nam ( T/c Xưa&Nay, số 49B, 3.1998), ông Hoàng Châu Ký viết: “Năm 1912 cụ Nguyễn Hiển Dĩnh xin về hưu non ở tuổi 53 sau gần 30 năm đi làm quan”. Trong bài trả lời phỏng vấn của báo Đà Nẵng cuối tuần vừa nêu trên, ông Hoàng Châu Ký cho biết thêm : “Thời phong kiến khi cho quan lại về hưu thường thăng cấp và cấp bổng lộc nhưng đối với cụ (NHD), chính quyền triều Nguyễn rất bực bội phê duyệt có 5 chữ “Đái nguyên hàm hồi quán” ( giữ hàm cũ về hưu). Đủ thấy thái độ của triều Nguyễn thời ấy đối với cụ như thế nào. Trước sự việc như thế cụ Nguyễn Hiển Dĩnh vẫn coi như không có việc gì. Cụ làm bài thơ có câu: Miễn đặng nguyên hàm nhai nhóp nhép, không răng nghĩ lại cũng không răng.”

Ông Hoàng Châu Ký không trưng dẫn cho biết đã căn cứ vào tài liệu nào nên không thể kiểm chứng được. Tuy nhiên, căn cứ vào những tài liệu đã được công bố chính thức thì những thông tin của ông Hoàng Châu Ký có những điều cần phải xét lại như sau:

1.Theo Tự điển văn học, và theo lời tường thuật của ông Tống Phước Phổ - người cháu và thư ký tuồng NHD thì ông NHD sinh năm 1853. Giả như ông NHD về hưu đúng như ông Hoàng Châu Ký viết vào năm 1912 thì ông NHD đã về hưu vào năm ông 59 tuổi (1912-1853=59). Thế thì ông NHD làm sao có thể về hưu ở tuổi 53 như ông Hoàng Châu Ký viết ? Ba mươi năm làm quan, về hưu vào tuổi 59 thì không thể nói là hưu non.

2.Cũng theo Tự điển văn học và theo lời tường thuật của ông Tống Phước Phổ  thì ông NHD về hưu vào năm 1907. Ta nên tin theo ông Hoàng Châu Ký hay tin theo ông Tống Phước Phổ trong khi ông Tống Phước Phổ chính là người cháu và thư ký tuồng thân cận của ông NHD ?

3.Để nhấn mạnh cho cái sự về hưu của NHD, ông Hoàng Châu Ký đã dẫn một vài câu đối, câu thơ như :

“Không răng đi nữa cũng không răng,

 Chỉ có thua người một miếng ăn”

Nhưng tiếc thay đây là hai câu trong một bài tứ tuyệt của nhà thơ trào phúng đất Thần kinh Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ mà tác giả Hoàng Trọng Thược đã dẫn rõ trong sách  Tinh thần trào phúng trong thi ca xứ Huế  (In lần thứ nhất, 1973, Ấn quán Trung Việt, Phú Nhuận Sài Gòn, tr. 144).

Không răng đi nữa cũng không răng,
Chỉ có thua người một miếng ăn [1]
Miễn đặng nguyên hàm [2]  nhai nhóp nhép,
Không răng nghĩ lại cũng không răng.”

 Với những dẫn chứng trên  cho thấy ông Hoàng Châu Ký đã thu góp những thông tin truyền miệng, không thẩm tra lại bằng tư liệu thành văn, không đối chiếu với những dữ kiện khác trong tiểu sử chung của ông NHD nên dẫn đến tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, mâu thuẫn  với chính những thông tin khác của ông (HCK) đưa ra. Do đó những thông tin của ông Hoàng Châu Ký nêu trên không thể tin được.

Còn những thông tin về chuyện ông NHD về hưu của ông Tống Phước Phổ cung cấp thì sao?

Trong Hội nghị khoa học về NHD lần thứ nhất, ông Tống Phước Phổ đã đọc một tham luận nhan đề Nguyễn Hiển Dĩnh một nhà sáng tác, đạo diễn rất lỗi lạc trong nghệ thuật tuồng, và sau đó  đưọc đăng vào Kỷ yếu Nguyễn Hiển Dĩnh nhà hoạt động sân khấu tuồng lỗi  lạc ( Sở Văn hoá QNĐN, 1887). Trong bài tham luận dài 15 trang (khổ 13x19), ông Tống Phước Phổ đã đề cập đến trường hợp về hưu trí của ông NHD như sau:

“Một năm sau cụ được bổ vào làm án sát Bình Định, rồi thăng chức bố chánh Khánh Hòa. Tỉnh Khánh Hòa không có Tổng đốc, nên bố chánh là thủ hiến tỉnh này. Được tin quan thủ hiến đổi đến, tất cả các quan viên của tỉnh phất cờ dóng trống kéo nhau đi đón mừng, nhưng khi đi qua tòa công sứ Pháp thì không dám đánh trống vì sợ quan sứ quở trách, có khi ngài còn vác ba-toong ra đánh nữa là khác. Cụ nghe nói vậy, bảo cứ dóng trống đi qua. Tên sứ vác ba-toong đi ra, thấy cụ nghiễm nhiên ngồi ngó thẳng không thèm chào. Trước thái độ cứng rắn của cụ, hắn tỏ vẻ hằn học bỏ đi vào. Đến tỉnh, cụ chưa đến chào sứ, đã tiếp được giấy của tòa sứ đem đến bảo cụ thông tri cho nhân dân tỉnh biết ở đây mọi việc đều dưới quyền quan công sứ. Qua hôm sau cụ đến chào công sứ. Tên sứ hỏi cụ đã thông tri cho nhân dân trong tỉnh biết chưa ? Cụ trả lời đã thông tri rồi. Chúng hỏi thông tri thế nào, cụ nói: “Tôi thông tri cho nhân dân trong tỉnh biết, ở đây, về bên bảo hộ thì tòa sứ cao nhất, còn về Nam triều thì tôi có quyền cao nhất”. Tên sứ căm tức, nhưng không thể nói được. Từ đó chúng càng căm giận vì không có một việc gì cụ chịu khuất phục. Một hôm tên sứ đến tỉnh thấy cứt ngựa dọc đường vào tỉnh, liền đến hỏi cụ: ông làm thủ hiến ở đây sao lại để cho bên đường như vậy ?  Cụ trả lời: “Ông ra hỏi viên hộ thành. Ở đây những việc đó do hộ thành trông coi, tôi phải lo nhiều việc khác”. Tên sứ ra về.

Đến kỳ hội thương, công sứ chủ trương ngoài thuế điền, thuế đinh ra nên gia thêm các thứ thuế khác như thuế chợ, thuế đò...v.v. Các quan đồng ý, nhưng cụ không chịu, với lý do chủ trương đó chưa tiếp được thông báo của Nam triều, không thể thi hành được. Hai bên cãi cọ nhau, tên sứ định xách ba-toong đánh cụ, cụ vội vớ chai rượu để trên bàn sẵn sàng đánh lại tên sứ. Các quan hoảng hốt ôm cụ, đưa vội ra xe về tỉnh. Sau đó hai bên cùng báo cáo, một bên gửi về tòa khâm một bên gửi về Nam triều. Ít lâu sau cụ được giấy ở tòa khẩm gửi về khen cụ, bên Nam triều gửi giấy bảo cụ nên xin lỗi viên sứ cho xong chuyện. Từ đó cụ cứ suy nghĩ, bọn chúng làm vậy để lừa bịp dư luận, làm ra vẻ chúng công bình, không bênh vực nhau; hôm nay chúng đổi tên sứ này đi, chưa biết hôm nào chúng sẽ tìm cách trả thù, cho nên chưa đến tuổi, cụ đã có ý muốn về hưu. Có điều nhiều người cứ bàn ra nói vào, khuyên cụ vì nhà còn nghèo nên gắng làm quan ít năm nữa... cho nên cụ cứ lưỡng lự, chưa biết tiến thoái thế nào. Một hôm trong bữa cơm chiều, cụ vui vẻ hỏi anh Ngọ, người hầu thân tín, tính tình chất phác, ăn nói thật thà, đứng bên quạt cho cụ: “Chú Ngọ, việc vừa rồi thì tòa khâm thì khen mình, còn Nam triều lại bảo xin lỗi, vậy có nên xin lỗi và ở lại làm việc với chúng không ? Ý chú thế nào?” Anh Ngọ liền trả lời: “Bẩm quan, về đi thôi, ở lại càng nhục, chỉ cứt ngựa ngoài đường chúng còn hỏi mình...”

Một câu ngắn gọn như vậy đã giúp cho cụ dứt khoát tư tưởng, cụ lấy giấy bít ra chỉ viết tám chữ: “Tòng sự nhật cửu, thinh hứa hồi hưu”. (Lẽ ra theo qui chế của triều đình những người ra làm quan, chưa đúng tuổi mà muốn xin về hưu thì phải viết bài biểu “trần tình” dâng lên nhà vua. Ngược lại, cụ chỉ gửi tám chữ cụt ngủn như vậy, triều đình cho là ngạo mạn, nên khi phúc giấy lại cũng chỉ năm chữ: “Đái nguyên hàm hồi quán” nghĩa là “Giữ nguyên hàm về làng”. (Theo lệ triều đình, mỗi khi một ông quan về hưu, ít ra cũng phải thăng một trật). Thế là khoảng 1907 cụ về hưu.

“Quan san nghìn dặm ca nhi một đoàn” (tr.57-59)

Đưa những thông tin trên, ông Tống Phước Phổ  rất dè dặt. Ông cho biết ông NHD về hưu vào “khoảng 1907” chứ không khẳng định là 1907. Về phản ứng của ông NHD trước tên sứ là ông “vội vớ chai rượu để trên bàn sẵn sàng đánh lại tên sứ”. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu không rõ đã căn cứ vào tài liệu nào mà lại khẳng định NHD về hưu năm 1907, và thay vì ông “vội vớ chai rượu để trên bàn sẵn sàng đánh lại tên sứbằng một  động tác mạnh mẽ hơn: “ông đã xách ghế định choảng vào đầu tên quan khâm sứ Pháp và sau đó viết đơn lên triều đình xin nghỉ hưu trước tuổi” [3]. Giữa việc định đánh và đã đánh một tên Công sứ Pháp lúc đó về hình sự rất khác nhau, thế mà động tác mạnh và thiếu văn hoá nầy đã được nhiều bài viết sử dụng. Tôi không tiện nêu tên các tác giả các bài ấy. Xin nêu vài tác giả đã khẳng định ông NHD về hưu năm 1907 là : Tất Thắng (Tự điển văn học Việt Nam, tập II, KHXH, 1984, tr. 66), Nguyễn Q. Thắng (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, KHXH, 1991, tr. 530). . .

Phải chăng NHD đã về hưu năm 1907 với chức  Bố chánh Khánh Hoà không ?

Nếu ai đã biết về cái chết oan uổng của nhà yêu nước Trần Quý Cáp năm 1908 tại Khánh Hoà hẵn đã biết những quan lại chóp bu ở Khánh Hoà từ năm 1906 đến năm 1909 gồm có những ai. Một trong hai vị chóp bu tỉnh Khánh Hoà ấy là ông Nguyễn Văn Mại. Trong hồi ký  Lô Giang Tiểu sử, Nguyễn Văn Mại  viết:

“Ngày tháng 5 (Bính Ngọ, Thành Thái 18, 1906), Phiên sứ (Bố chánh) Mai Khắc Đôn....thăng Trị Bình Tuần vũ, ông PHẠM NGỌC QUÁT, Án sát Phú Yên lảnh Bố chánh tỉnh Khánh Hoà, cùng ta quyền  chưởng Thuận Khánh tổng-đốc quan phòng.” (tr.122).

Bố chánh Phạm Ngọc Quát và Nguyễn Văn Mại quyền chưởng Thuận Khánh tổng đốc quan phòng chịu trách nhiệm về cái chết của Trần Quý Cáp năm 1908 tại Khánh Hoà. Sách báo xưa nay đã nhắc đi nhắc lại biết bao lần [4]. Thế thì năm 1907 làm gì còn có một cái ghế Bố chánh thứ hai nữa để cho ông Nguyễn Hiển Dĩnh ngồi cãi nhau với Công sứ và viết đơn xin về hưu ? Không có chuyện năm 1907 NHD làm Bố chánh tỉnh Khánh Hoà nên những thông tin có liên quan đến cái chức Bố chánh đó của NHD ở Khánh Hoà là những chuyện không có căn cứ.

Thế ông NHD về hưu năm nào?

Trong sách Trần Quý Cáp chí sĩ duy tân Việt Nam đầu thế kỷ XX (Nxb Đà Nẵng, 1995) có đăng  một  đoạn hồi ức của cụ Trần Huỳnh Sách - “môn đệ thân yêu và trung hậu của chí sĩ Trần Quý Cáp” cũng là “người đưa di hài Trần Quý Cáp từ Khánh Hoà về Quảng Nam” cho biết “ Trong tập thủ khảo Tiểu sử Trần Quý Cáp” có đoạn viết:

“ Tiên sinh (TQC) mất bốn năm sau ( tức 1908+4 = 1912), tôi được thơ ông Nguyễn Hiển Dĩnh người làng An Quán tỉnh Quảng Nam, làm Tuần vũ tỉnh Khánh Hoà gởi về thăm, trong có câu: “Tiên sinh (TQC) mộ cận giang, bất tiện” [5] .

Điều đó chứng tỏ năm 1912 ông NHD vẫn còn ngồi tại ghế Tuần vũ Khánh Hoà. Nếu tin vào trí nhớ của ông Trần Huỳnh Sách thì không thể giải thích được sự kiện dưới đây xảy ra vào năm 1908 do chính  nhà Quảng Nam học nổi tiếng Nguyễn Văn Xuân viết.

Tạp chí Nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành Quảng Nam Đà Nẵng, số 1 /1981, Ty Văn hoá Thông tin QNĐN, ông Nguyễn Văn Xuân có bài “Một tờ truyền đơn lịch sử - Giới thiệu-chỉnh lý-nhận định” [6].  Bài viết cho biết  năm 1908 ông “Nguyễn Hiển Dĩnh, Tuần vũ hưu trí “ là một trong các quan hưu trí đã đi hiểu dụ dân chúng Quảng Nam không nên đi chống thuế và sau đó ông NHD được thưởng Kim Khánh (T/c đã dẫn, chú thích 14 tr.29). Vậy ta tin ông Trần Huỳnh Sách hay tin nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân ?

Tôi không rõ ông Tất Thắng (Tự điển văn học) quê ở đâu, còn tất cả các tác giả  khác đã viết về năm hồi hưu của NHD đều là người Quảng Nam Đà Nẵng, viết trên các ấn phẩm xuất bản tại Quảng Nam Đà Nẵng. Nhưng không hiểu vì cớ gì các vị lại không tham khảo nhau mà lại đưa ra nhiều thông tin tréo cẵng ngổng đến như thế. Năm NHD về hưu cũng là năm NHD bắt đầu  sự nghiệp Hát bội.  Một việc cụ thể như thế mà ông nói gà bà nói vịt thì những việc trọng đại khác trừu tượng hơn làm sao có thể thống nhất được ?  Rất mong các nhà nghiên cứu NHD, đặc biệt là cháu chắt  của ông NHD hiện đang sống và làm việc tại QNĐN  làm rõ trong thời gian tới. 

Nguyễn Đắc Xuân
Huế Xưa & Nay
Gác Thọ Lộc, 8.5.1999

Chú thích

[1]“ Miếng ăn” đây là “tiền ăn hối lộ”

[2] “Nguyên hàm”: Tam Xuyên bị cách chức nhưng được giữ nguyên hàm là phẩm hàm trong ngạch quan lại, nhưng cũng có nghĩa là hàm xai. Chú thích của Hoàng Trọng Thược

[3] Hoàng Chương, Nguyễn Hiển Dĩnh danh nhân sân khấu dân tộc, đăng trong Kỷ yếu HNKH lần thứ 2 về NHD mang tựa đề Danh nhân Nguyễn Hiển Dĩnh , nxb Sân Khấu, 1996, tr.34

[4] Xem Trần Quý Cáp chí sĩ duy tân Việt Nam đầu thế kỷ XX, nxb Đà Nẵng 1995, từ tr.92 đến tr. 98

[5] Trần Quý Cáp chí sĩ duy tân Việt Nam đầu thế kỷ XX , Nxb Đà Nẵng, 1995, tr. 120-121

[6] Nguyễn Văn Xuân, Một tờ truyền đơn lịch sử - Giới thiệu-chỉnh lý-nhận định,  Tạp chí Nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành Quảng Nam Đà Nẵng, số 1 /1981, Ty Văn hoá Thông tin QNĐN, tr.25-42

 
 
Các bài Phản biện khác
Các bài Người ấy trong tôi