Ta biết được những gì về Án sát Phạm Ngọc Quát và những người âm mưu cùng thực dân Pháp tử hình chí sĩ Trần Quý Cáp năm 1908?
Sau hơn một thế kỷ qua (1908-2012), giới nghiên cứu sử học đã biết rõ người âm mưu cùng thực dân Pháp tử hình chí sĩ Trần Quý Cáp vào năm 1908 là Án sát tỉnh Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát[1] . Với hành vi phản động ấy, ông Quát được xem là một nhân vật phản diện trong lịch sử Việt Nam đầu Thế kỷ XX. Thế nhưng thông tin tư liệu về cuộc đời “làm quan phản động” của ông, cho đến nay, chúng ta có quá ít. Ông Quát không xuất thân khoa bảng nên không có tên trong Quốc triều Hương khoa lục và Quốc triều Đăng khoa lục.

Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế dày trên 1400 trang cũng không có tên Phạm Ngọc Quát.  Tra cứu Google trên Net cũng chỉ được một cụm từ cho biết ông là “cha của thầy giáo Phạm Ngọc Thọ và là ông nội của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch” mà thôi. Bài viết nầy dựa vào một ít tư liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn và phần cơ bản dựa vào niên ký, hồi ký của những người cùng thời như Phó bảng Nguyễn Văn Mại, Phó bảng Phan Châu Trinh, Cử nhân Hà Ngại, Cử nhân Hồ Ngận, nhà giáo Đặng Thái Mai.v.v.

1. Phạm Ngọc Quát trong sử sách triều Nguyễn

Đọc các sách sử của Quốc sử quán cuối triều Nguyễn, tôi rút ra được các sự kiện có liên quan đến Phạm Ngọc Quát sau:

Cuối năm Đinh Mùi (1907), Phạm Ngọc Quát là “quan tỉnh Khánh Hòa”, báo lên cấp trên rằng Lê Bá Cử khai hoang được 400 mẫu đất nhập vào xã Khánh Xuân [2] ,

Ngày 18-7-Duy Tân thứ 2 (14-8-1908), Tuần phủ Hà Tĩnh Phạm Ngọc Quát đệ lên Phụ Chính phủ bản án các chí sĩ Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân[3];

Tháng 10 năm Mậu Thân (11-1908), Tuần vũ Hà Tĩnh Phạm Ngọc Quát tâu lên cấp trên về mối liên hệ cha con của Ngô Liên - thân sinh của Ngô Đức Kế, vì Ngô Đức Kế đang bị trọng án[4]

Tháng 5 Nhâm Tý (6-1912), thực hiện quyết định của Toàn quyền, Phụ Chính phủ chọn Tuần vũ Bình Thuận Phạm Ngọc Quát và Án sát Trương Quang Tán sung vào làm hội viên Hội đồng phân định ranh giới Nam Kỳ và Trung Kỳ[5] ;

Tháng 2 Ất Mão (3-1915), Tuần vũ Quảng Trị Phạm Ngọc Quát báo lên cấp trên việc Nguyễn Lợi  ở xã Như Lệ huyện Hải Lăng làm đơn xin lập thôn Tân Mỹ được bộ Hộ tâu lên và cho thi hành[6].

Các sự kiện diễn ra từ năm 1907 đến 1915, trong 8 năm ấy ta có thể biết được:

TT

Thời gian

Chức vụ

 Địa phương

Công việc

1

1907

Quan tỉnh (có lẽ là Bố chánh)

Tỉnh Khánh Hòa

Cho nhập 400 mẫu đất mới khai hoang vào xã Khánh Xuân

2

4-1908

Án sát

Tỉnh Khánh Hòa

Xử tử Chí sĩ Trần Quý Cáp (Theo Vũ Ngự Chiêu)

3

8-1908

Tuần vũ

Tỉnh Hà Tĩnh

Làm án Ngô Đức Kế và….

4

11-1908

Tuần vũ

Tỉnh Hà Tĩnh

Về mối liên hệ của Ngô Liên và con trai là Ngô Đức Kế đang bị trọng án

5

6-1912

Tuần vũ

Bình Thuận

Hội viên Hội đồng phân định ranh giới Nam Kỳ và Trung Kỳ

6

3-1915

Tuần vũ

Quảng Trị

Cho Nguyễn Lợi  ở xã Như Lệ huyện Hải Lăng lập thôn Tân Mỹ 

Sáu sự kiện trên, cho ta biết trong 8 năm (từ năm 1907 đến năm 1915), Phạm Ngọc Quát đã trải qua các chức Bố chánh rồi Án sát ở Khánh Hòa (1907-1908), Tuần vũ Hà Tĩnh (1908), Tuần vũ Bình Thuận (1912) và Tuần vũ Quảng Trị (1915). Nhưng chỉ trong năm 1908, “thành tích” đàn áp những người yêu nước ở Khánh Hòa và Hà Tĩnh, đủ để tên tuổi ông được xem như một nhân vật phản diện đen nhất trong lịch sử đấu tranh yêu nước VN đầu thế kỷ XX. Nhưng rất tiếc trong chính sử Việt Nam cho đến nay chưa viết rõ về nhân vật phản diện nầy. Trong khi chờ chính sử viết, tôi xin trích dẫn một số thông tin trong niên ký, hồi ký của những người cùng thời để các nhà nghiên cứu tham khảo.

1. Phạm Ngọc Quát là một “lại điểm xuất thân”.

Cử nhân Hà Ngại tác giả di cảo Khúc Tiêu Đồng cho biết:

Cái chết của cụ [Trần Quý Cáp] năm 1908 có nhiều lý-do sâu xa đã được công bố. Tôi chỉ xin trình bày thêm lý-do sau đây mà tôi được biết riêng: lúc cụ vào Khánh-Hoà, gặp phải người cầm chánh quyền Nam triều là lại điểm xuất thân-lại điểm là do chức thư lại rồi lần hồi thăng lên các chức lớn, không phải do khoa mục-nên ghét những nhà khoa giáp. Ngày kia, người cầm quyền ấy mời cụ tới cảnh cáo rằng:

-Nếu ông còn can thiệp đến chính-trị, thúc giục dân chúng làm rối trị an, tôi sẽ không tha thứ.

Cụ Trần Quý Cáp đáp qua lại mấy lời, nhưng cuối cùng thấy kẻ kia có vẻ hống hách liền nói:

-Quan lớn có thể cách chức giáo thọ của tôi chớ không thể cách cái Tiến-sĩ của tôi được.

Người ấy giận dữ, tìm cách trả thù…”[7]

Đoạn văn nầy trích tại trang 66 trong Di cảo (bản đánh máy) “Khúc Tiêu Đồng - 50 năm hồi ký -1895-1945” của cụ Cử nhân Hà Ngại, người cùng quê Điện Bàn Quảng Nam với Trần Quý Cáp. Tuy sách chưa xuất bản[8] nhưng bản thảo đã được nhà văn Nguyễn Văn Xuân hiệu đính và được nhà nghên cứu Nguyễn Sinh Duy ở Đà Nẵng đánh máy hồi trước năm 1975 nên thông tin lịch sử trong Di cảo nầy rất đáng tin cậy.   

2. Vì sao Phạm Ngọc Quát quyết tâm phải giết Trần Quý Cáp?

Cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh – người cùng thời, cùng xướng xuất duy tân với chí sĩ Trần Quý Cáp trả lời cho chúng ta:

"...Thủ phạm của vụ mưu sát này đã được tôi nêu đích danh nhiều lần, chính là Phạm Ngọc Quát, lúc bấy giờ là Bố chánh[9] của tỉnh Khánh Hoà. Hắn là bậc thầy về gian xảo. Khi quan toàn quyền Beau ra lệnh khuyên bảo dân chúng mở trường học và lập các công ty thương mại, Phạm Ngọc Quát liền không bỏ lỡ cơ hội để tỏ ra sốt sắng, nhằm được thăng quan tiến chức và được đồng bào khen ngợi. Hắn đã hướng dẫn cho dân chúng trong tỉnh thực hiện các ý định của vị quan đứng đầu thuộc địa và đã cử nạn nhân sau này của hắn là ông Trần Quí Cáp đến với dân, khuyến khích dân lập các hội buôn. Về phần mình, hắn thu gom vốn tại tỉnh Bình Thuận. Giữa lúc đó, bỗng xảy ra các cuộc biểu tình ở Quảng Nam và sau đó, chính quyền đã thiết lập trong tất cả các tỉnh có trường học và hội buôn một chế độ trấn áp nho sĩ. Phạm Ngọc Quát sợ phải trả lời về những chỉ thị mà hắn đã gửi đến ông Trần Quí Cáp có liên quan đến những trường học và hội buôn được thành lập. Hắn đón trước trách nhiệm của mình về việc trên bằng cách thủ tiêu ông Trần Quí Cáp trong một cuộc hành quyết vội vàng và trắng trợn, vì ông có thể là một nhân chứng gây nhiều rắc rối cho hắn. Hơn nữa, tên khốn nạn này được Khâm Sứ Trung kỳ Lévecque khích lệ bằng lệnh cho các nhà chức trách cấp tỉnh thẳng tay tàn sát nói rằng để giữ uy tín cho Nhà nước"[10] .

Cụ Hà Ngại cho biết Phạm Ngọc Quát là một “lại điểm xuất thân”, không có khoa bảng, “lần hồi được thăng lên”. Cụ Tây Hồ bổ sung cái cách hoạt động để được thăng lên của Phạm Ngọc Quát là một tên cơ hội “đón đầu lập công”, Khi nghe Toàn quyền Pháp khuyến khích duy tân mở trường, lập hội buôn, Phạm Ngọc Quát khyến khich Trần Quý Cáp thực hiện, khi thấy Pháp lo sợ Phong trào Duy Tân, Phạm Ngọc Quát tìm cách bắt và giết Trần Quý Cáp để bịt đầu mối, giấu nhẹm những liên hệ của Phạm với Trần. Một người cơ hội chính trị ác đến thế đó.

3. Phạm Ngọc Quát còn được giao giết thêm những nhà yêu nước nào nữa?

Cũng chính cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh trả lời cho lịch sử câu hỏi đó: Trong Trung Kỳ Dân Biến Thỉ Mạt Ký, cụ Tây Hồ viết:

Lại nghe nói Bố chánh Khánh Hòa là Phạm Ngọc Quát sau khi giết ông Tiến sĩ Trần Quý Cáp rồi, tức thì thăng làm Tuần vũ tỉnh Hà Tĩnh và sau khi đến nhận chức mới nầy, có bắt giết bốn, năm

Có lẽ cụ Tây Hồ nghe chuyện ấy trong thời gian bị tù ở Côn Đảo. Từ thông tin của cụ Tây Hồ, cách đây trên mười năm tôi đã lần theo dấu tích, tìm tài liệu để biết được cặn kẽ và chính xác hơn trong bài Một người cháu vua Minh Mạng dám chống Tây thực dân. Sự kiện Pháp cử Phạm Ngọc Quát ra Hà Tĩnh để thực hiện việc giết các nhà yêu nước ở Hà Tĩnh theo “thủ tục” mà  Phạm Ngọc Quát đã áp dụng để giết Trần Quý Cáp ở Khánh Hòa hơi phức tạp nên xin phép được trích lại đầy đủ sau đây: 

“So với các tỉnh miền Trung, phong trào chống thuế ở Hà Tĩnh nổ ra muộn, ngày 4-6-1908, ở huyện Nghi Xuân mới có khoảng 200 người đến xin thuế, do Trịnh Khắc Lập, Phan Chiên và Phan Cẩn lãnh đạo. Ba người nầy liền bị bắt và bị án sát Cao Ngọc Lễ chiếu luật Khích biến lương dân kết án trảm  giam hậu và phạt tù tại Lao Bão. Tưởng như thế đã xong, không ngờ Công sứ Pháp Doucet và án sát Cao Ngọc Lễ  muốn nhân cơ hội nầy “lấy mấy cái đầu” của các ông Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân - những nhà hoạt động Duy tân nổi tiếng thời bấy giờ.

Lúc ấy Nguyễn Phúc Hồng Khẳng (1861-1931) đang ngồi ghế Tuần vũ tỉnh Hà Tĩnh. Hồng Khẳng là con trai thứ 13 của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, cháu nội vua Minh Mạng, một người có văn học, ông không làm cách mạng nhưng  luôn  luôn ủng hộ  những  người có đầu óc đổi mới. Trong thời gian Hồng Khẳng làm Tuần vũ Hà Tĩnh (1907-1908), các nhà Nho Ngô Đức Kế (Tiến sĩ), Lê Văn Huân (Cử nhân), Đặng Nguyên Cẩn  (quan chức) hoạt động trong tổ chức Minh Xã và hội buôn Triêu Dương (trụ sở chính tại Vinh)  được mọi sự dễ dàng. Bởi thế Hồng Khẳng không thể mù quáng nghe theo lời thực dân giết hại những người yêu nước mà ông đã từng yêu quý. Mỗi lần bọn thực dân họp bàn việc xử  án các nhà yêu nước, ông Tuần vũ Hồng Khẳng đều phản đối kịch liệt. Vì thế  vụ án kéo dài đến mấy tháng mà không xử được. Từ lâu bọn Chánh phó sứ Pháp chỉ xem quan lại Nam triều như những tên “tùy phái” của tòa sứ. Khi gặp phải sự cương quyết của Tuần vũ Hồng Khẳng chúng hết sức tức giận nhưng không làm gì được ông. Mỗi lần Doucet nêu ý kiến phải giết Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân, Hồng Khẳng đều bát bỏ :

-“Luật lệ Nam triều không có mục nào cho phép khép những tội trạng thế này vào tử hình hết!”

Quan Tuần vũ đã có ý kiến như thế, quan Bảo hộ không thể tự ý mình giải quyết vụ án. Đối với bọn Tây thực dân, không tử hình được mấy nhà yêu nước trong cơ hội nầy là bỏ mất một dịp may hiếm có. Vào buổi hội thương cuối cùng, Công sứ Doucet đã không giấu được sự thâm độc của mình buột miệng phát ra một lời đe dọa: 

-“Nếu quan Tuần vũ không chịu hợp tác với chính quyền Bảo hộ thì tôi nghĩ rằng...”

Ông Tuần vũ 48 tuổi- con trai của ông Hoàng có đầu óc chống ngoại xâm Miên Thẩm, không hề nao núng trước lời đe dọa của Doucet, đã khảng khái tiếp lời tên Công sứ thực dân:    

-“Tôi nghĩ rằng tôi sẽ trả ngay lập tức cái chức Tuần vũ này cho triều đình”.

Và rồi không thèm nói thêm nửa lời, Hồng Khẳng đứng dậy bỏ Hội thương ra về. Hôm đó ông điện vào viện Cơ mật xin trả chức Tuần vũ (tỉnh trưởng) tay sai Pháp để đem vợ con về Huế.

Về sau Giáo sư Đặng Thái Mai- con trai của Đặng Nguyên Cẩn, kể lại chuyện trên và cho biết:“Hồng Khẳng khảng khái bỏ quan về vườn được nhân sĩ hồi ấy khen ngợi nhiều. Nhưng cũng chính vì ông ta ra đi nên công việc của lão sứ Hà Tĩnh lại có được một cơ hội thuận lợi hơn”[12]

Đúng như thế, sau khi Hồng Khẳng rời Hà Tĩnh, Toà Khâm sứ Huế  theo đề nghị của Doucet chuyển ngay Phạm Ngọc Quát – Án sát tỉnh Khánh Hoà ra làm Tuần vũ Hà Tĩnh. Phạm Ngọc Quát là người vừa đạt được một thành tích với thực dân Pháp bằng việc tử hình nhà duy tân yêu nước - Tiến sĩ Trần Quý Cáp ở Khánh Hoà. Nhận chức Tuần vũ xong, Phạm Ngọc Quát cùng Án sát Cao Ngọc Lễ tìm mọi cách giết những người mà Hồng Khẳng đã hết lời bênh vực. Bọn tay sai thực dân cũng kịp biết Hồng Khẳng đã về Huế, thì chuyện hình án ở Hà Tĩnh đã đến tai viện Cơ mật nên chúng không dám giết càn. Cuối cùng các cụ Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân chỉ bị đày đi Côn Đảo cùng với các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh ...mà thôi. Làm án đày các nhân sĩ đi đảo xong, Phạm Ngọc Quát ra tay bắt bớ tù đày tiếp những thường dân Hà Tĩnh mà thực dân Pháp nghi là có âm mưu chống Pháp lâu nay”[13] 

Mặc dù bọn quan thực dân Pháp ở các tỉnh xem người đứng đầu tỉnh Tuần Phủ do Nam triều cử như những “tùy phái” bảo chi làm nấy, sai đâu chạy đó, nhưng Hồng Khẳng trong cương vị của mình cương quyết chống lại quyết định giết các nhà yêu nước Việt Nam của Công sứ Pháp Doucet và viên án sát Cao Ngọc Lễ làm theo lệnh của Pháp. Để tỏ thái độ cương quyết của mình, Hồng Khẳng đã trả lại cái chức Tuần Phủ Hà Tĩnh rồi đem vợ con về quê. Bọn Pháp dù có đem Phạm Ngọc Quát ra thay Hồng Khẳng cũng không dám xem thường thái độ cương quyết của Hồng Khẳng được. Dù Hồng Khắng không còn chức Tuần Phủ nhưng khi ông đã về đến Huế thì thế nào Nam triều cũng biết được những âm mưu đen tối đang diễn ra ở Hà Tĩnh, Doucet và Phạm Ngọc Quát khó lòng giết các ông Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân như đã từng giết Trần Quý Cáp ở Khánh Hòa. Hồng Khẳng đã biết chỗ dừng (tri kỳ sở chỉ) không sợ thực dân nên cứu sống được các nhà yêu nước, lưu được tiếng thơm cho hậu thế.   

4. Bàn tay sạch và nhân cách

Thủ phạm giết chết chí sĩ Trần Quý Cáp là Phạm Ngọc Quát, việc đó đã rõ ràng. Tuy nhiên, nghiên cứu về hoàn cảnh đưa đến cái chết ấy, ngoài Phạm Ngọc Quát, các nhà nghiên cứu lâu nay rất băn khoăn về vai trò của Tuần vũ Khánh Hòa Nguyễn Văn Mại – vị quan Nam triều cấp trên trực tiếp của Án sát Phạm Ngọc Quát lúc ấy ra sao? Ngay sau ngày Trần Quý Cáp bị giết, dư luận ở Khánh Hòa và các quan Nam triều ở Huế cho rằng, Tuần phủ Nguyễn Văn Mại trốn tránh trách nhiệm cho nên Phạm Ngọc Quát mới giết được Trần Quý Cáp. Có lẽ ông Tuần Khánh Hòa có nghe dư luận đó và cũng có lúc thấy lương tâm dằn vặt cho nên đến buổi xế chiều, ngồi viết Lô Giang tiểu sử , ông đã dành một lượng chữ khá lớn để giải bày tâm sự của mình về cái chết của một trí thức mà ông từng quý trọng. Vì di cảo Lô Giang tiểu sử chỉ lưu hành trong gia đình nên nhiều nhà nghiên cứu chưa tiếp cận được. Để có thể hiểu Tiểu Cao một cách thấu đáo trước khi có lời bình luận, tôi xin phép được trích nguyên văn phần tác giả viết về Trần Quý Cáp sau đây:  

“Trần Quí Cáp là người Quảng Nam, lúc ta ngồi ở Quảng Nam, Trần quân là thượng hạng học sinh tú tài ở tỉnh ngang hàng với Phạm Liệu và Huỳnh Thúc Kháng. Ta tuy làm chánh chức nhưng khi rảnh lui tới trường học (tr.128) cùng với ông Đốc học Trần Đình Phong duyệt quyển bình văn. Đối với Trần quân  có tình thầy trò. Lúc ta thăng Tuần vũ Hà Tịnh, Trần quân đậu tiến sĩ.

Lúc ấy Trung Quốc gặp thời chính biến triều đình cũng chưa cấm các sách tân thơ, Trần Quân xem thời cuộc say theo học thuyết Khang Lương , tuy chưa tỏ rõ trong văn tự nhưng thường thổ lộ nơi ngôn ngữ . Nhà đương sự đã nghi kị. Trần quân lấy bằng Tiến sĩ lảnh chức Giáo thọ phủ Thăng Bình. Thường đối với sĩ phu hay đề cập các vấn đề duy tân, cải lương.  Trong tỉnh sợ có khích biến bèn tư bộ xin đổi . Trần quân nghe trong Khánh Hòa Bình Thuận mới xướng tân học , rất vừa lòng, bèn vận động rồi làm Giáo thọ Phủ Ninh Hòa. Còn ông Giáo thọ Ninh Hòa Nguyễn Văn Doãn lại đổi Giáo thọ phủ Thăng Bình. Ấy là nguyên nhân Trần Quân vào Khánh Hòa.

Trần quân mới đến thấy không có chi thay đổi liền nói với ta một mặt mua tân thơ để giảng dạy, một mặt cho phép sĩ phu cúp tóc, một mặt xin đi các hạt diễn thuyết , cải lương, các khoản ta đều xét chưa có thể thi hành được. Về trường Trần quân đem 3 khoản ấy bẩm lên, ta liền phúc thơ tay bác đi, lấy lẽ rằng dân trí đang ở thời kỳ ấu trĩ, chưa có thể đem lời của người trưởng thành mà nói  được. Lúc loạn xin sưu và cúp tóc lan đến Phú Yên, ở tỉnh Khánh Hòa cũng giới nghiêm.

Một hôm Tòa mời đến hội nghị về các khoản ấy, ta đương đau mắt cũng đến dự - Công sứ nói loạn sắp đến trong tỉnh, ngày mai chúng ta đi Ninh Hòa, để hiểu thị cho dân chúng khỏi mê hoặc. Ta từ chối vì đau mắt không thể đi được . Hôm sau công- sứ cùng quan Án[14] đến Ninh Hòa, ta ở lại công quán mời thầy điều trị. Chiều ấy thấy tỉnh tòa phái lính giải Trần quân tống giam vào lao. Công sứ về Tòa liền mật mời ta đến nói:-“ Việc Trần quân có điện của Kinh bắt giam nghiêm xét, lúc xét giây má của Tần quân trong rương có thủ thơ của ngài 3 phong, chẳng biết ý kiến thế nào?” Ta đáp “Trần quân có bẩm lên mấy khoản ta đáp thơ bác đi. Công sứ hỏi sao không dùng trác sức, Ta nói vì Trần quân tư bẩm nên ta không tiện dùng công văn mà dùng thủ thơ. Công sứ nói các giấy má của Trần quân khám xét được, đều ghi số mục , mật dịch, đệ về Kinh khó lòng dâu diếm. Ta đáp không ngại gì Liền giao (tr.129) ty phiên thông dịch và Tòa thuộc đồng dịch làm hai bản, mọt bản lưu Tòa,  một bản đệ về Kinh. Hơn một tháng sau ta đau mắt lành về tỉnh xét lại trong giấy má của Trần quân không có gì là phiến động. Duy trong lúc phong trào xin sưu, cắt tóc ở mấy tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú có một vài bạn gởi thơ cho Trần quân biết, Trần quân cũng đáp lại , trong nguyên thảo khuyên không nên bạo động, bạo động là hành vi không giá trị. Lúc ấy bị tình nghi bắt giam có bốn năm mươi người. Trong ngục có một thanh niên Khánh Hòa tên là Ấm Trực. Khi tra, nó khai, năm trước đồng bối với Trần quân có nhiều người vào Khánh Hòa muốn đáp tàu Nga để sang Nhựt bản, cùng vài hành vi ngôn ngữ phản đối của Trần quân. Công sứ lấy đó làm bằng chứng . Còn trong lời khai của Trần quân thì ngoài việc đọc sách, nuôi mẹ già, không biết chi nữa. Chỉ như các người đồng đảng do thanh niên ta khai ra , phần nhiều ở Kinh bắt giam, ở tỉnh chưa từng tra cứu, Liền tư Cơ mật viện đem lời cung khai của thanh niên kia mà tra xét lại rõ ràng. Những tên khác khai thế nào, xin phúc cho tỉnh biết để tỉnh xử. Đã lâu viện không phúc đáp. Trần quân ở trong ngục hơn hai tháng, có một bức thơ trần tình, do ta bẩm nạp, trong có câu:

Man man đại địa, diếu diếu nhứt thân

Chỉ ưu lão mẫu, duy niệm gia bần

Phong thơ ấy con cái trong nhà làm thất lạc, ta chỉ nhớ câu ấy thôi. Đáng tiếc.

Ta cầm viết tả khoản Trần quân lâm nạn đến đây không thể trương giấy mài mực, dang tay cầm bút. Vì đâu nên nỗi? – Từ khi công sứ thôi thúc kết liễu việc Trần quân ta đáp: “Tội Trần quân chỉ một tên thanh niên khai ra, mà Trần quân không nhìn nhận. Còn một bọn can khoản ấy lại giam ở Kinh, vậy xin giải Trần quân về Kinh để tiện đối chứng. Công sứ  y lời ta, trình về viện thẩm phúc. Lâu cũng chẳng có tin lại. Sau tiếp Tòa công sứ sao điện văn của Tòa Khâm phúc rằng Án Trần quân chiếu điều khoản 309 cùng 321 hình luật mà xử. Tại tỉnh ngạc nhiên, điện về viện thẩm xét. Liên tiếp viện phúc đáp y như Tòa Khâm (tr.130) xét nghĩ. Án Trần quân thành vậy.

Việc xảy ra ngày tháng tư năm ấy. Ôi! Ta có lòng nào giết Trần quân, mà Trần quân chết lại do tay ta. Bài trần tình trong ngục mà làm gì? Tuy nhiên khiến ta lúc ở Khánh Hoà ăn không ngồi rồi, không mưu việc chấn chỉnh học vụ, không chăm việc cải lương học giới, thì Trần quân đâu có đến đây, đất Sông  Cạn, cầu Phước -thạnh, đâu phải là nơi Trần quân chết?"[15].

Tôi may mắn đã có được tập Lô Giang tiểu sử từ hơn 30 năm qua[16]. Tôi đã đọc đoạn văn trích trên hàng chục lần. Tôi đặt mình vào hoàn cảnh của tác giả cố gắng hiểu tác giả và tin tin những gì ông viết trong Lô Giang Tiểu sử là thật. Tin lời ông tự sự “Ta có lòng nào giết Trần quân, mà Trần quân chết lại do tay ta” là thật. Tuy nhiên với đầu óc mê sử triều Nguyễn và những trải nghiệm của cuộc đời sống qua nhiều chế độ, trong tâm trí tôi cứ bị ám ảnh bởi nhiều câu hỏi mà tôi không thể giải đáp được. Và, khi chưa có câu trả lời, lòng tin tác giả Tiểu Cao có phần giảm bớt.

1. Có vấn đề gì mắc míu mà ông không tiện đề cập đến tên ông Công sứ Pháp và tên Án sát Phạm Ngọc Quát mà chỉ viết là “Hôm sau công- sứ cùng quan Án đến Ninh Hòa”?

2. Ông làm Tuần vũ - quan Nam triều đứng đầu tỉnh Khánh Hòa, ông biết rõ ý chí của người học sinh ưu tú sau là Tiến sĩ Trần Quý Cáp, biết rõ Trần đã vì tin tưởng “việc chấn chỉnh học vụ, chăm việc cải lương học giới” của ông mà xin bổ vào tỉnh Khánh Hòa, ông biết rõ tội của Trần Quý Cáp không có gì quan trọng như ông viết: “Hơn một tháng sau ta đau mắt lành về tỉnh xét lại trong giấy má của Trần quân không có gì là phiến động”. “Tội Trần quân chỉ một tên thanh niên khai ra, mà Trần quân không nhìn nhận. Còn một bọn can khoản ấy lại giam ở Kinh, vậy xin giải Trần quân về Kinh để tiện đối chứng”. Thế tại sao ông không đề nghị đưa Trần Quý Cáp ra xét xử ở tòa án Nam triều ? Ông không tố cáo việc làm ám muội trái pháp luật của Công sứ và Án sát Phạm Ngọc Quát với Nam triều?  Có thể sự phản đối của ông không được bọn thực dân và tay sai chấp nhận giống như chúng đã đối xử với Tuần vũ Hồng Khẳng ở Hà Tĩnh, nhưng ít ra lương tâm của ông cũng không thẹn với người ông đã quý trọng chết vì nước chứ?

3. Qua hồi ức của ông, chứng tỏ ông có giao thiệp, gặp gỡ, thư qua từ lại vói Trần Quý Cáp về chuyện tân thư, tân sách, chuyện mở trường học, mở hội buôn,  cổ động đồng bào cắt tóc ngắn hưởng ứng Phong trào Duy Tân. Phải chăng ông không dám bảo vệ Trần Quý Cáp vì sợ Công sứ Pháp và Án sát Phạm Ngọc Quát “tòng phạm” với Trần Quý Cáp?     

Những câu hỏi đó ám ảnh tôi gần 30 năm qua. Dù đứng ở góc độ nào, tôi cũng không thể không nghĩ: Tuần vũ Nguyễn Văn Mại chịu một phần trách nhiệm trước bản án tử hình chí sĩ Trần Quý Cáp.

*

*       *

Kết quả của bài viết không đưa ra được một khám phá nào mới mà chỉ minh họa những ý tưởng đã có bằng những tài liệu đầu tay của những người đương thời viết về Phạm Ngọc Quát. Chuyện đã diễn ra trên một thế kỷ, nhưng tính nhân văn của câu chuyện vẫn còn mói nguyên. Chí sĩ Trần Quý Cáp bị giặc giết lúc mới 38 tuổi (1870-1908), mới đậu Tiến sĩ có 4 năm (1904-1908), sự nghiệp cách mạng của ông mới chỉ có một số ý tưởng duy tân đổi mới chứ chưa có một thành quả nào trong cuộc đời. Thế mà, từ ngày Việt Nam được tự chủ (8-1945) đến nay, không một thành phó nào trên đất nước Việt Nam không có tên đường Trần Quý Cáp, nhiều trường học ở các địa phương mang tên ông. Ông được lưu danh muôn thuở vì nhân cách, vì chí khí bất khuất trước bạo quyền của ông. Và, qua cái chết của ông, ta thấy được bản chất của những kẻ bất tài, không qua con đường học vấn, tiến thân bằng những thủ đoạn cơ hội độc ác. Bọn cơ hội sẵn sàng đạp lên xác đồng đội để được quyền cao chức trọng. Đồng thời cũng qua cái chết oan ức của Trần Quý Cáp, ta thấy được con người “phu mẫu chi dân”(cha mẹ của dân), muốn giữ cho bàn tay của mình sạch, họ đã núp sau bức màn đạo đức giã, vô trách nhiệm trước sinh mạng của những người họ từng quý trọng. Nhưng rồi, họ có thể che giấu sự thật trước cuộc đời nhưng không thể che giấu với lương tâm của mình. Không còn cơ hội để sửa chữa, chỉ còn một cách là mang xuống tuyền đài.

HỘI THẢO KHOA HỌC VỀ CHÍ SĨ TRẦN QUÝ CÁP, Hội An 14-7-2012

                                           Gác Thọ Lộc (Huế), 7-6-2012,

Nguyễn Đắc Xuân

                                            Tài liệu tham khảo

Đặng Thái Mai, Hồi ký –Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb Tác Phẩm Mới, Hội Nhà văn Việt Nam, hN 1985.

Hà Ngại, Khúc Tiêu Đồng, Di cảo, bản đánh máy. Nghiên Cứu Huế tập Hai - 2001

H. Le Breton, La vie de S.E.Hồng Khẳng, BAVH No7 Juillet-Septembre 1933

Hồ Ngận, Quảng Nam xưa Nay (Di cảo) Nxb Thanh Niên, 2004

Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Q4, T1

Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, “Vụ kháng thuế Trung Kỳ năm 1908”

Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các quan triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa Huế 2002

Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân, Tủ sách Sử học, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, SG 1973

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Bản dịch của Cao Tự Thanh, Nxb Văn hóa-Văn nghệ TP HCM, 2011.

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên, nxb Thời Đại, TTVHNN Đông Tây, 2010

Tây Hồ Phan Chu Trinh, Trung Kỳ Dân Biến Thỉ Mạt Ký, (Lê Ám, Nguyễn Q Thắng, chú dịch và giới thiệu),Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb, SG. 1973

Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, Lô Giang Tiểu sử, bản dịch của Nguyễn Hy Xươc, bản Ronéo, 1960.

Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối triều Nguyễn, (Thiên mệnh Đại Pháp), 1884-1945, Tập 2, Nxb Văn Hóa, Houston, USA 2000.


[1] Cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh  – người cùng thời, cùng xướng xuất duy tân với chí sĩ Trần Quý Cáp viết: "...Thủ phạm của vụ mưu sát này đã được tôi nêu đích danh nhiều lần, chính là Phạm Ngọc Quát, lúc bấy giờ là Bố chánh của tỉnh Khánh Hoà…(Lê thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Q4, T1, tr 274)

Trong đoạn Cuộc “Dân Biến” năm 1908, nhà sử học Vũ Ngự Chiêu viết : “…Tại Ninh Hòa dù chư có biến động nào, Tiến sĩ  Trần Quý Cáp cũng bị bắt ngày 16/4/1908. cùng hơn 60 người khác. Sau đó Án Sát Phạm Ngọc Quát làm án tử hình Tiến sĩ Cáp. Qua tháng 6, Trần Quý Cáp bị chém ngang lưng” (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối triều Nguyễn, (Thiên mệnh Đại Pháp), 1884-1945, Tập 2, Nxb Văn Hóa, Houston, USA 2000; tr.618) 

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Bản dịch của Cao Tự Thanh, Nxb Văn hóa-Văn nghệ TP HCM, 2011, tr.494.

[3] Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân, Tủ sách Sử học, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, SG 1973, tr.134

[4] Nguyễn Thế Anh, Sđd tr.136

[5] Như (2) tr. 559

[6] Như (2), tr. 620;

[7] Hà Ngại, Khúc Tiêu Đồng, Di cảo, bản đánh máy

[8] Với sự cho phép sử dụng của vợ chồng ông bà Hà Thúc/ Thanh Hà - người thừa kế của tác giả, tôi đã lần lược đăng tập hồi ký Khúc Tiêu Đồng nầy trên tập san Nghiên Cứu Huế, bắt đầu từ Tập Hai năm 2001. Đoạn trên trích từ tr.211-212 của Nghiên Cứu Huế, Tập Hai; 

[9] Theo Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, từ đầu năm 1908 Phạm Ngọc Quát đã được chuyển qua làm Án sát Khánh Hòa.

[10] Lê thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Q4, T1, tr 274- 275

[12] Đặng Thái Mai, Hồi ký-Thời kỳ thanh thiếu niên. Nhà xuất bản Tác phẩm mới-Hội nhà văn Việt Nam-1885, trang 68

[13] Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các quan triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa Huế 2002, tr.132-135.

[14] Tức Án sát, Phạm Ngọc Quát

[15] Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử, Nguyễn Hy Xước dịch, 128-131

[16] Do ông Nguyễn Hy Sơn – cháu đích tôn của cụ Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại cung cấp. Nhờ Lô Giang tiểu sử mà tôi biết được ông Lê Đình Mộng – lãnh đạo cuộc chống thuế năm 1908 tại Thừa Thiên Huế là người hàng xóm của ông nội tôi ở làng Dã Lê Chánh và nhiều sự kiện lịch sử khá

 

 
 
Các bài Tham luận khác
Các bài Vua quan triều Nguyễn