Sau ngày thất thủ Kinh đô 23- 5 Ất Dậu (1885), những ai đã phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở để phát động Phong trào Cần Vương chống Pháp?
Ban tổ chức hội thảo đặt cho tôi tham luận “Những gương mặt góp phần làm nên sự kiện Huế - Quảng Trị năm 1885.” Tôi thấy đề bài nầy quá rộng, không thể tải hết trong một tham luận. Vì thế tôi xin giới hạn lại vấn đề như sau: “Sau ngày thất thủ Kinh đô, những ai đã phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở để phát động Phong trào Cần Vương chống Pháp?”

1. Cuộc xuất bôn lịch sử

1.1. Kinh đô thất thủ. Sau sự kiện binh biến đêm 23-5 Ất Dậu (5-7-1885) tại kinh thành Huế, phái chủ chiến tiến hành đánh úp Pháp bị thất bại, các ông Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Trần Xuân Soạn, Hồ Văn Hiển rước vua Hàm Nghi, Tam Cung  (tức bà Từ Dũ, bà Trang Ý, bà Học Phi) cùng các ông hoàng, bà chúa, quan lại, binh lính nước Đại Nam ngược lên Kim Long tìm đò qua sông Hương để lên lánh nạn ở lăng vua Tự Đức. Nhưng có lẽ vì không chuẩn bị  nên không có đủ đò cho xa giá cả hơn một ngàn người nên đoàn đi thẳng lên chùa Thiên Mụ. Để cứu mình và hạn chế bớt thiệt hại cho việc làm liều của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường tách khỏi đoàn lẽn vào nhà thờ Kim Long nhờ Giám mục Caspard môi giới đầu hàng Pháp. Tôn Thất Thuyết giận Nguyễn Văn Tường phản bội, ông đích thân rước  xa giá chạy qua Trường Thi (làng La Chữ) nghỉ lại một đêm rồi sáng hôm sau ra tỉnh Quang Trị.

1.2. Kẻ ở  

Xa giá ra đến Quảng Trị trên một ngàn người. Trong đó có nhiều ông già bà lão, nhiều vương tôn công tử xưa nay sống trong các cung phủ được người hầu kẻ hạ chưa biết lao nhọc là gì. Suốt hai ngày 23 và 24-5 Ất Dậu (5 và 6-7-1885) họ thất thểu ra đến tình thành Quảng Trị được xem như một kỳ công chưa bao giờ họ dám nghĩ đến. Vì thế nghe Nguyễn Văn Tường đầu hàng Pháp, ổn định tình hình ở Huế họ rất mừng và muốn trở về Huế. Tôn Thất Thuyết thấy xa giá cả ngàn người như vậy đi xa cũng không tiện nên ai muốn về ông đồng ý cho về. Trước hết là Tam Cung (tức bà Từ Dũ - mẹ vua Tự Đức và hai bà vợ vua Tự Đức là Trang Ý, Học Phi. Các hoàng thân quay về cùng Tam cung có  Chánh Mông, Ưng Quyến (hai người anh của vua Hàm Nghi).

2. 3. Người đi

Những ai theo xa giá lên Tân Sở?

Khởi hành ở Quảng Trị, đi theo xa giá có đến trên 500 người. Phần lớn là đội quân Phấn Nghĩa của Tôn Thất Thuyết do Trần Xuân Soạn chỉ huy. Quan tướng đi theo - căn cứ vào Đại Nam Thực Lục và các tài liệu khác ta có thể biết được khoảng 10 người: Vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, và gia đình ông, gồm: Tôn Thất Đính (thân sinh Tôn  Thất Thuyết); Tôn Thất Lệ (em TTT), Tôn Thất Đàm (con trai TTT), Tôn Thất Tiệp[1] (con trai TTT), Trần Xuân Soạn, Phạm Thận Duật, Hồ Văn Hiển, Phan Văn Mỹ.

Ngoài ra ta cũng có thể biết được những người đã đến Tân Sở nhưng sau đó không theo vua đi kháng chiến. Họ đến Tân Sở để dụ rước vua Hàm Nghi về. Như Trương Văn Để, Trương Quang Đản, Đinh Tử Lượng[2].  

2. Thành Tân Sở

Thành Tân Sở được xây dựng từ năm 1883, đến năm 1885 thì cơ bản hoàn thành. Thành được cấu trúc theo hình chữ nhật, dài 548 m, rộng 418 m, tổng diện tích là 22,9 ha. Tân Sở là một công trình thành lũy dã chiến, ở một vùng kín đáo, biệt lập với đồng bằng và xa trung tâm các sở lỵ, rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ kháng chiến. Ba mặt Tây, Nam, Bắc là dãy đồi núi tự nhiên tạo thành một vòng khép kín. Phía Đông hướng ra đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong rất thuận lợi cho việc giao lưu với miền xuôi.

Thành Tân Sở - Nguồn: Internet

Theo nhiều tư liệu cho biết: Trước khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai (1882), Phạm Thận Duật đã có “bản mật tấu” gửi triều đình Huế, đề xuất xây dựng những đồn sơn phòng ở vùng rừng núi hiểm yếu, chuẩn bị căn cứ chống Pháp. Đề xuất của Phạm Thận Duật được các đại thần chủ chiến Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường tán thành và cho thực hiện ngay. Thành Tân Sở ra đời trong hoàn cảnh đó.

3. Những nhân vật lịch sử

Những nhân vật lịch sử nêu trên đã làm nên trang sử Tân Sở hào hùng. Vì thế cần phải biết hành trạng (bioprraphie) của họ để phụng thờ, lưu danh họ cho muôn đời sau. Vì giới hạn của một tham luận khoa học, xin trình bày một số nhân vật nổi tiếng hàng đầu. Nhân vật tiêu biểu số 1 là vua Hàm Nghi.

3.1. Vua Hàm Nghi (1871-1944)

Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, còn có tên là Nguyễn Phúc Minh. Ông là con thứ 5 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn. Ông  sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi, tức 3 tháng 8 năm 1871 (có tài liệu ghi ông sinh ngày 22 tháng 7 năm 1872). Ông là em cùng cha khác mẹ với Ưng Đăng (vua Kiến Phước) và Ưng Ký (tức Chánh Mông, tức là vua Đồng Khánh sau này).

Sau khi vua Tự Đức băng (7 năm 1883), mặc dù các Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm trọn quyền hành trong việc phế bỏ vua này, truất ngôi vua kia, nhưng hai ông lại rất bị động trong việc tìm người trong Hoàng gia có cùng chí hướng để đưa lên ngôi. Trước thời Hàm Nghi, cả ba vua Dục Đức, Hiệp Hoà và Kiến Phúc đều lần lượt đi ngược lại đường lối của phái chủ chiến hoặc bị mất sớm, trở thành những phần tử không thể không bị loại bỏ khỏi việc triều chính đang rối ren. Vua Kiến Phúc đột ngột qua đời trong lúc tình hình đang có lợi cho các ông “chủ chiến” trong triều đình Huế. Sau khi Kiến Phúc mất, đáng lẽ người con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Ưng Ký (Chánh Mông) lên ngôi, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sợ lập một vị vua lớn tuổi sẽ mất quyền hành nên hai ông chọn một người nhỏ tuổi  để dễ tác động. Ưng Lịch từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ.  Khi thấy sứ giả đến đón, cậu bé Ưng Lịch hoảng sợ và không dám nhận áo mũ người ta dâng lên. Sáng ngày 12 tháng 6 Giáp Thân, tức ngày 2 tháng 8 năm 1884, Ưng Lịch được dìu đi giữa hai hàng thị vệ, tiến vào điện Thái Hòa để làm lễ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Hàm Nghi. Khi đó Ưng Lịch mới 13 tuổi.

Khâm sứ Pierre Paul Rheinart thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tự tiện lập vua, không hỏi ý kiến đúng như đã giao kết nên gửi quân vào Huế bắt Triều đình phải xin phép. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phải làm tờ xin phép bằng chữ Nôm nhưng viên Khâm sứ không chịu, bắt làm bằng chữ Nho. Hai ông phải viết lại, viên Khâm sứ mới chịu và sau đó đi cửa chính Ngọ Môn vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi. Công việc đầu tiên mà vua Hàm Nghi phải thủ vai, dưới sự hướng dẫn của Tôn Thất Thuyết là tổ chức đón phái đoàn Pháp từ Tòa khâm sứ ở bờ Nam sông Hương sang điện Thái Hoà làm lễ tôn vương cho nhà vua. Lúc 9 giờ sáng ngày 17 tháng 8 năm 1884, phái đoàn Pháp gồm Đại tá Guerrier, Khâm sứ Rheinart, Thuyền trưởng Wallarrmé cùng 185 sĩ quan binh lính kéo sang Hoàng thành Huế. Guerrier buộc triều đình Huế phải để toàn bộ quân Pháp tiến vào Ngọ Môn bằng lối giữa, là lối chỉ dành cho vua đi, nhưng Tôn Thất Thuyết nhất định cự tuyệt. Cuối cùng chỉ có 3 sứ giả được vào cổng chính, còn lại các thành phần khác thì đi cổng hai bên. Cả triều đình Huế và phái đoàn Pháp đều mang tâm trạng không vừa lòng nhau, nhưng buổi lễ thọ phong cuối cùng cũng kết thúc êm thấm. Lúc phái đoàn Pháp cáo từ, Tôn Thất Thuyết đã ngầm cho quân lính đóng cửa chính ở Ngọ Môn lại nên đoàn Pháp phải theo hai lối cửa hai bên để về. Nhìn nhận về sự kiện này, Marcel Gaultier đã viết:

“Ainsi Hàm-Nghi conservait aux yeux du peuple son caractère sacré. Le petit prince, venait, sans s’en douter, de marquer par un acte dont le retentissement dans l’empire allait être considérable, sa vonlonté de demeurer indépendant et de subir hautainement la présence des Francais à Huê”[3]

Tạm dịch : Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình. Vô tình vị vua trẻ tuổi đã làm một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước: với ý chí cương quyết độc lập và dù người Pháp có đóng quan tại Huế, triều đình An Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn.

Đêm 22 rạng 23 - 5 Ất Dậu (tức 4, rạng 5 - 7 - 1885), Tôn Thất Thuyết, vì thấy người Pháp khinh mạn vua mình như vậy, nên quyết định ra tay trước: đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ. Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, rời bỏ Kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại việc giao chiến trong đêm và mời vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng Tam cung lên đường lánh nạn.

Lúc đầu nghĩ sẽ lên lánh nạn ở Khiêm lăng, nhưng sau thẳng đường lên chùa Thiên Mụ hướng ra ngã Trường Thi ở làng La Chữ. Ở lại La Chữ một đêm, hôm sau Tôn Thất Thuyết đưa xa giá ra phía Bắc. Chiều ngày 6 tháng 7  xa giá đến Quảng Trị và dừng lại trong thành Quảng Trị.

Ngày 9 tháng 7, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, lên đường đi Tân Sở.

Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi dậy chống Pháp giành độc lập. Sự ủng hộ, che chở giúp đỡ và tham gia nhiệt tình của đồng bào các địa phương từ Quảng Trị qua tới đất Lào cũng như trong vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình đã cho Hàm Nghi thấy được vai trò của bản thân mình nên chịu “nhẫn nại và đón cuộc phong trần bằng thái độ rất thản nhiên" [4] .

Dân chúng nổi dậy rất đông, nhưng vì rải rác các nơi nên lực lượng không mạnh. Nhà vua đã hai lần xuống dụ Cần vương trong đó có một lần gửi thư cầu viện cho Tổng đốc Vân-Quý của triều Mãn Thanh và rất nhiều chỉ dụ khác tới các quan lại, lãnh tụ của phong trào chống Pháp. “Tên của ông ta đã trở thành ngọn cờ của nền độc lập quốc gia... Từ Bắc chí Nam, đâu đâu dân chúng cũng nổi lên theo lời gọi của ông vua xuất hạnh[5].

Trong suốt thời gian kháng chiến của vua Hàm Nghi, vua anh Đồng Khánh do Pháp đặt lên và ba bà Thái hậu liên tục gửi thư kêu gọi vua trở về nhưng ông khẳng khái từ chối. Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Paul Bert cũng đã định lập Hàm Nghi làm vua 4 tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình nhưng cũng không thành. “Nhà vua thường nói mình ưa chết trong rừng hơn là trở về làm vua mà ở trong vòng cương tỏa của người” [6]. Tại căn cứ địa lãnh đạo phong trào Cần Vương, vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết cử con là Tôn Thất Đàm và Tôn Thất Tiệp hộ giá bảo vệ, cùng đề đốc Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân chia nhau phòng thủ và tấn công các lực lượng Pháp trong vùng.

Tháng 9 - 1888, suất đội Nguyễn Đình Tình ra đầu thú với Pháp tại đồn Đồng Cá. Nguyễn Đình Tình lại dụ được Trương Quang Ngọc về đầu thú. Sau đó Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc tình nguyện với Pháp đem quân đi vây bắt vua Hàm Nghi. Đêm khuya 30-10-1888[7], vua Hàm Nghi bị bắt khi đang ngủ, Tôn Thất Tiệp bị đâm chết. Khi đó, nhà vua mới 17 tuổi, chống Pháp mới hơn ba năm (7-1885 – 10-1888). Ông đã chỉ thẳng vào mặt Trương Quang Ngọc mà nói rằng: “Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây".

Từ đêm hôm đó ở bờ khe Tá Bào, huyện Tuyên Hóa (nay là huyện Minh Hóa) tỉnh Quảng Bình, Trương Quang Ngọc mang vua Hàm Nghi về các đồn Thanh Lạng, Đồng Ca rồi sang Quảng Khê và đến đồn Thuận Bài vào chiều ngày 14 tháng 11 năm 1888. Quân Pháp tổ chức chào đón vua rất long trọng nhưng vua đã tỏ ra không hiểu, không nhận mình là Hàm Nghi. Viên trung uý chỉ huy quân đội Bonnefoy đã chuyển bức thư của Tôn Thất Đàm gửi cho vua Hàm Nghi xem nhưng nhà vua ném lá thư xuống bàn và làm như không có can hệ gì đến mình. Viên đề đốc Thanh Thuỷ là Nguyễn Hữu Viết được Pháp cử tới để thăm hỏi và nhận mặt thì nhà vua giả như không hay biết. Nhưng khi thầy học cũ là Nguyễn Nhuận[8] đến xem thì nhà vua vô tình đứng dậy vái chào. Đến lúc đó thì người Pháp mới yên trí đó là vua Hàm Nghi. Từ Thuận Bài, người Pháp chuyển vua Hàm Nghi qua Bố Trạch rồi vào Đồng Hới và tới cửa Thuận An ngày 22 tháng 11 năm 1888.

Vua Hàm Nghi (1871-1944) - ngọn cờ Càn Vương chống Pháp

Khi được tin người Pháp đã bắt được vua Hàm Nghi, vua Đồng Khánh  sai quan lại Thừa Thiên và bộ binh ra đón để đưa về Huế. Nhưng người Pháp đã có quyết định dứt khoát với vị vua kháng chiến này là đày sang xứ AlgérieBắc Phi. Rheinart đã báo cho ông biết là Thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt. Nghe vậy, vua Hàm Nghi đáp: "Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh em nữa"[9], rồi ông cáo từ về phòng riêng.

Vào 4 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu đi vào Lăng Cô. Trước phút rời xa quê hương, nhà vua nhìn lên bờ, không nén được cảm xúc vì nỗi niềm riêng và vận nước nên đã oà khóc[10].  Chiều ngày 13-12-1888, từ bến cảng Sài Gòn, vua Hàm Nghi được đưa xuống tàu Biên Hoà - một tàu vận tải binh sĩ, lên đường qua Algérie-một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Dọc đường thái độ vua Hàm Nghi thật bình thản. Bốn ngày đầu, ông nằm trong phòng đọc sách, không hề bước chân ra ngoài. Từ ngày 17-12-88 trở đi, nhà vua  mới bỏ thái độ lạnh nhạt, thù hận với viên Trung tá phó Hạm, và bắt đầu có một nụ cười với các sĩ quan bộ binh Pháp mà có vài người nói được tiếng Việt.

Chiều Chủ Nhật, 13-1-1889, sau hành trình đúng một tháng, tàu Biên Hoà cặp bến Alger - Thủ đô của nước Bắc Phi Algérie. Toàn quyền Pháp cử một đại tá cùng với một trung đội lính Lê Dương (Légion Étrangère) ra bến tàu Alger làm dàn chào đón ông. Nghe tin vua Hàm Nghi bị đày sang Algérie, một số học sinh người Việt Nam tại Alger tìm đến chào Ngài, trong đó có sinh viên y khoa Nguyễn Khắc Cần. Ông nầy đã ở Algérie 10 năm nên quên hết tiếng Việt. Ông Cần nhờ người thông ngôn vua Hàm Nghi mới hiểu.

Mười ngày đầu, vua Hàm Nghi tạm trú tại L’hôtel de la Régence (Tòa Nhiếp chính). Sau đó, ông được giao một ngôi nhà khá tiện nghi, trước có một khoản sân rộng, chung quanh là vườn hoa, trên đồi El-Biar, cách Alger chừng 3 cây số. Đây là một vùng hoang dã trên dãy đồi Mustapha Supéreur. Lối đi từ trong nhà ra có hai rặng thông, trên cổng vào treo lủng lẳng một tấm biển mang hai chữ “Tùng Hiên“ (Villa des pins)[11].

Toàn quyền Algérie cử bà Marie Jeanne Delorme (1852-1941) lớn hơn vua Hàm Nghi gần 20 tuổi làm quản gia cho ông. Và, có lẽ bà nầy cũng được giao kiêm nhiệm luôn việc theo dõi “người tù chính trị” Hàm Nghi.

Ngày 24-1-1889, Toàn quyền Tirman tiếp kiến và mời vua Hàm Nghi ăn cơm gia đình. Ít ngày sau, qua Toàn quyền Tirman, ông nhận được tin thân mẫu là bà Phan Thị Nhàn (vợ thứ của Hồng Cai, hoàng tử thứ 26 của vua Thiệu Trị) - mẹ ruột Cựu hoàng, đã từ trần ngày vào 21-1-1889 tại Huế. Thân phụ mất (1876) lúc vua Hàm Nghi mới năm sáu tuổi. Đến nay lại được tin thân mẫu qua đời nữa, ông đau khổ vô cùng. Ngay tối đó, chứng sốt rét đã hành hạ vua Hàm Nghi suốt ba năm sống trong rừng lại tái phát. Cơn sốt làm cho ông mê man đến mấy ngày. May nhờ có bác sĩ giỏi chữa nên nhà vua bình phục dần dần. Sau đó ông tập đi xe đạp, học vẽ và làm quen với chiếc máy chụp hình để khuây khỏa nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước.

Gần mười tháng tiếp đó, vua Hàm Nghi không chịu học tiếng Pháp. Ông cho rằng tiếng Pháp là thứ tiếng của dân tộc đã cướp nước Nam, không học làm gì. Mọi việc giao thiệp đều qua thông ngôn Trần Bình Thanh. Nhưng dần dần ông thấy người Pháp ở Algérie không phải là lọai người Pháp thực dân ở xứ An Nam, không những họ không thù hận ông mà trái lại họ còn quý mến và giúp đỡ ông. Đến tháng 11-1889, ông chịu học tiếng Pháp với Sư huynh Néopol[12]. Tiền học phí 75 quan mỗi tháng; mỗi ngày học một tiếng rưỡi, ngoại trừ Thứ Năm và Chủ Nhật. Ngoài ra, ông còn tập thể dục mỗi ngày hai tiếng rưỡi. Nhờ thế mà sức khỏe của ông được phục hồi dần dần. Vua Hàm Nghi vẫn giữ chiếc áo dài đen và cái búi tó trên đầu, nhưng những lần đi săn chung với Toàn quyền Tirman, ông bắt đầu ướm thử Âu phục. Dân bản xứ gọi ông là Prince d’Annam (Hoàng tử nước Nam).

Trải qua 10 năm (1899) ở Tùng Hiên trên đất Alger, vua Hàm Nghi đã học giỏi tiếng Pháp và văn minh văn hóa Pháp. Ông nói và viết tiếng Pháp giống như người Pháp. Tuy nhiên, ông luôn nói tiếng Việt và ăn cơm Việt Nam do những người bên Việt Nam cử qua. Có lần người ta nói đến lịch sử của nước Pháp và ca ngợi nước Pháp hết lời, vua Hàm Nghi đáp lời:

-“Lịch sử nước Pháp rất hấp dẫn tôi, nhưng lịch sử của nước tôi cũng hấp dẫn tôi không kém !” (L’Histoire de France me charme; mais celle de mon pays est bien belle aussi)[13]

Vua Hàm Nghi giao du quen thuộc với nhiều trí thức nói tiếng Pháp. Nhiều quan chức cao cấp của Pháp rất trọng nể tinh thần yêu nước và phong cách sống phương Đông của ông. Vua Hàm Nghi rất thích chụp ảnh, đi xe đạp ra vùng nông thôn để vẽ tranh.

Ông De Varingi phóng viên báo Le Temps đã đến thăm vua Hàm Nghi và đã mô tả chỗ làm việc của nhà vua như sau:

Một phòng rộng lát đá hoa. Nơi đây vua Hàm Nghi thích hơn cả và Ngài làm việc suốt ngày ở đó. Trên bàn sách, báo ngổn ngang, các họa phẩm treo đầy trên tường. Trên giá vẽ còn nhiều bức đang dở dang. Rồi nào chỗ đánh đàn, nào máy ảnh. Những vật ấy làm lộ rõ cái chí ham hiểu biết, ham sáng tạo của Ngài...”. (…un vaste pièce dallée de marbre …. C’était aussi la pièce préférée du prince, celle où il passait presque tout son temps. Des livres sur une table, des tableaux, des grisailles, des dessins aux murs, des chevalets supportant des toiles inachevées, des pupitres à musique, des appareils photographiques dénotaitent un esprit curieux, avide de comprendre, de savoir, de créer…. »[14]

Năm 1899 vua Hàm Nghi được qua thăm Paris và đến xem một triển lãm của danh họa Paul Gauguin, về sau khi vẽ tranh Hàm Nghi cũng chịu ảnh hưởng phong cách của Gauguin.

Năm 1904, vua Hàm Nghi đính hôn với cô Marcelle Laloe (sinh năm 1884, mất năm 1974), con gái của ông Laloe chánh án tòa Thượng thẩm Alger. Đám cưới của họ trở thành một sự kiện văn hóa của thủ đô Alger. Hàm Nghi cùng bà Marcelle Laloe có ba người con:

1.Công chúa Như Mai sinh năm 1905 (mất năm 1999).

2. Công chúa Như Lý sinh năm 1908 (mất năm 2005).

3. Hoàng tử Minh Đức sinh năm 1910 (mất năm 1990).

Ngày 14 tháng 1 năm 1944, vua Hàm Nghi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày tại biệt thự Gia Long – do chính vua Hàm Nghi xây dựng để thờ tổ tiên nhà Nguyễn tại thủ đô Alger. Năm 1962, nước Algérie độc lập, Chính phủ Pháp buộc lòng phải di chuyển kiều dân Pháp cùng toàn bộ tài sản mồ mã của người Pháp về Pháp. Gia đình vua Hàm Nghi cũng thuộc diện kiều dân Pháp nên vào năm 1965, chuyển qua sinh sống tại lâu đài de Losse bên bờ sông Vézère thuộc làng Thonac tỉnh Dordogne (miền Trung tây nước Pháp, sát với biên giới phía tây nam tỉnh Corrèze), do Công chúa Thạc sĩ Nông học Như Mai tạo lập từ nhiều thập niên trước.

Lăng mộ vua Hàm Nghi được cải táng qua nghĩa trang do Công chúa Như Mai tạo lập riêng cho gia đình bà tại Thonac. Lăng mộ vua Hàm Nghi hết sức đơn sơ, gồm hai khối bê-tông chồng lên nhau. Khối lớn khoảng 4m x 6m, cao 0.6m, chưa kể phần móng chôn sâu dưới đất, khối nhỏ chiều ngang bằng một phần ba khối lớn chồng trên khối lớn ở vị trí trung tâm. Trên mặt bê-tông của khối lớn còn thừa ở bên trái (từ ngoài nhìn vào) gắn tấm bia mang từ Alger sang với dòng chữ: ”S.M. Ham Nghi. Hué 1871- Alger 1944. Empereur d’ Annam“ (Dịch nghĩa: Vua Hàm Nghi. Huế 1871 - Alger 1944. Hoàng đế nước Annam ). Phần bê-tông bên phải có một tấm đá dùng làm nắp che cho cửa huyệt mộ lăng.

Trong huyệt mộ nầy cho đến nay đã táng 5 người. Các hàng chữ khắc trên mộ như sau:

-S.M. HAM NGHI, Empereur d'Annam, Hue 1871 - Alger 1944

-S.A.I. La princesse d'Annam, née Marcelle LALOË, 1884 – 1974 (S.A.I. viết tắt của các từ  Son Altesse Impériale Hoàng phi Marcelle LALOË, 1884 – 1974, vợ chính thức của vua Hàm Nghi).

-Nhu May, Princesse d'Annam, 1905 – 1999 (tức Công chúa Như Mai, người Pháp đọc chữ Mai là “Me” cho nên phải khắc trên bia là Như May);
 - Minh Duc, Prince d'Annam, 1910 – 1990 (Hoàng tử Minh Đức)
- Marie Jeanne DELORME, 1852 - 1941 (lớn hơn vua Hàm Nghi 19 tuổi, người quản gia, do chính phủ Pháp cử đến giúp vua Hàm Nghi ngay từ khi vua Hàm nghi mới bị đày sang Alger). [15]

mohamnghi

Lăng mộ vua Hàm Nghi năm 2005. TL Internet

3.2. Tôn Thất Thuyết (1839-1913)

Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi, tức 12 tháng 5 năm 1839 [1] tại làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yến cạnh Kinh thành Thuận Hóa, nay thuộc thôn Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế. Ông là con thứ hai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu (người làng Vân Thê). Ông  là cháu 5 đời của Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần.

 Năm 30 tuổi (1869), Tôn Thất Thuyết giữ chức Án sát tỉnh Hải Dương. Đến tháng 7 - 1870, được sung làm Biện lý Bộ hộ rồi sau đó (tháng 11) chuyển sang chức Tán tương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm "dẹp loạn" ở các tỉnh phía Bắc. Sau chiến dịch này, Tôn Thất Thuyết được phong chức "Quang lộc tự khanh" và làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên. Kể từ đó, ông chuyên hoạt động quân sự rất nổi tiếng.

Tôn Thất Thuyết (1839-1913) - khát vọng giải phóng dân tộc

Tháng 12 - 1870, ông chỉ huy đánh dẹp nhóm Đặng Chí Hùng ở Thái Nguyên. Tháng 3 - 1872 ông cùng Trương Văn Để (con trai Đại thần Trương Đăng Quế) đánh tan quân Tàu Ô ở Hải Dương, giết chết Hoàng Tề. Tháng 8 - 1872, ông đánh thắng toán giặc Khách ở Quảng Yên. Tháng 12 - 1873, ông cùng Hoàng Tá Viêm phục binh tại Cầu Giấy, Hà Nội giết chết viên chỉ huy quân sự trong đợt Pháp đánh miền Bắc lần thứ nhất là đại úy Francis Garnier. Tháng 7 - 1874, ông cùng Hoàng Tá Viêm đàn áp hai cuộc nổi dậy của hai sĩ phu Trần Tấn và Đặng Như Mai. Tháng 3 - 1875, ông dập tắt được cuộc nổi loạn ở Cổ Loa, Đông Anh, bắt chém thủ lĩnh ngay tại trận. Tháng 6 - 1875, ông bức hàng nhóm Dương Đình Tín ở Thái Nguyên. Tháng 9 - 1875, bắt sống được tướng quân Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh ở Thái Nguyên....

Với hàng loạt công lao như vậy nên Tôn Thất thuyết được vua Tự Đức cho thăng tiến nhanh. Tháng 3 - 1872, ông được bổ làm Bố chính tỉnh Hải Dương. Năm 1873 làm Tham tán Đại thần hàm Thị lang Bộ binh, rồi lên thự Tham tri Bộ binh. Tháng 3 - 1874 vẫn là Tham tán Đại thần nhưng Tôn Thất Thuyết được phong là Hữu tham tri Bộ binh, tước Vệ Chính Nam. Tháng 4 - 1874, ông giữ chức Tuần Vũ tỉnh Sơn Tây kiêm Tham tán Đại thần. Tháng 3 - 1875 ông là thự Tổng đốc Ninh-Thái kiêm Tổng đốc các việc quân Ninh-Thái-Lạng-Bằng. Đến tháng 10 - 1875 lại được bổ làm Hiệp đốc quân vụ Đại thần, chức tước gần ngang với Tổng thống quân vụ Đại thần Hoàng Kế Viêm. Với thắng lợi vào năm 1881, Tôn Thất Thuyết được phong chức Thượng thư Bộ binh và sang tháng 2 - 1882 ông kiêm thêm chức Hải phòng sứ Kinh thành Huế. Năm 1883, Tôn Thất Thuyết chính lãnh chức Thượng thư Bộ binh và sau đó được cử vào Cơ Mật Viện vào tháng 6 - 1883.

Vào tháng 10 - 1875, khi ông đang làm Tổng đốc Ninh-Thái, phái viên Pháp ở Hà Nội đã đề nghị triều đình Huế phải thay người, vua Tự Đức đã bổ ông đi chỗ khác.

Ngày 19 tháng 7 - 1883, trước khi chết, vua Tự Đức chọn ông làm Đệ tam Phụ chính Đại thần sau Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường. để giúp cho Dục Đức kế vị ngôi vua vào tháng 7 - 1883.

 Với chức vụ Phụ chính đại thần, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thực hiện nhiều cuộc phế lập mở đầu thời “tứ nguyệt tam vương” vô cùng đau đớn cho triều Nguyễn.

Đầu tiên là việc phế bỏ Dục Đức, đưa Hiệp Hòa - em của vua Tự Đức lên ngôi.

Tháng 8 năm 1883, Tôn Thất Thuyết được thăng chức Điện tiền tướng quân, Hiệp biện Đại học sỹ, tước Vệ Chính Bá. Nhưng do ông đã phản đối Hiệp ước Harmand ký ngày 25 - 8 - 1883, nên đã bị Hiệp Hoà đổi sang làm Thượng thư Bộ Lễ rồi Thượng thư Bộ Lại. Do không chấp nhận chủ trương hòa với Pháp nên vào cuối tháng 11 - 1883, ông tổ chức phế bỏ Hiệp Hòa và đưa Kiến Phúc - người con nuôi thứ hai của vua Tự Đức, lên ngôi và về giữ lại chức Thượng thư Bộ Binh. Ông lập nên đội quân lấy tên là Phấn Nghĩa và giao cho Trần Xuân Soạn chỉ huy, để bảo vệ ông và trừ khử những phần tử không ăn cánh với ông hoặc bị ông nghi là có quan hệ với Pháp. Một trong những người bị Tôn Thất Thuyết giết thảm khốc nhất là Đệ nhất Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành. Ông thâu tóm quyền lực trong tay để với danh nghĩa chuẩn bị cho công cuộc chống Pháp sắp tới. Đầu tháng 8 - 1884, sau cái chết uẩn khúc của vua Kiến Phúc, ông đưa Ưng Lịch - em vua Kiến Phươc (nhưng không thuộc diện con nuôi của vua Tự Đức), lên ngôi lấy niên hiệu Hàm Nghi cũng xuất phát từ ý hướng chống Pháp. Tôn Thất Thuyết trở thành đối tượng cần thanh toán hàng đầu của người Pháp.Họ muốn thanh toán ngay lập tức. Trong tình thế luôn bị thực dân Pháp muốn loại bỏ, ông đã ra tay trước để giành thế chủ động bằng cuộc tấn công Pháp tại Huế vào đêm 4 rạng ngày 5 - 7 - 1885, khi quân Pháp đang mở tiệc chiêu đãi ở Tòa Khâm sứ bên bờ nam sông Hương. Tôn Thất Thuyết cho quân đánh úp vào trại lính ở Mang Cá và Tòa Khâm sứ Pháp, nhưng đã thất bại. Sau đó ông đưa Hàm Nghi ra Sơn Phòng Quảng Trị, thay mặt vua hạ chiếu Cần Vương. Em trai ông là Tôn Thất Lệ và hai con trai ông là Tôn Thất Đàm và Tôn Thất Tiệp cũng theo phò vua Hàm Nghi và trở thành những nhân vật lịch sử hàng đầu trong phong trào Cần Vương. Người Pháp treo giải 2000 lạng bạc cho ai nộp đầu Tôn Thất Thuyết và ai bắt được vua Hàm Nghi thì được thưởng 500 lạng bạc.

Mặc cho ba bà Thái hậu và nhiều quan lại kêu gọi ông quay về với triều đình, Tôn Thất Thuyết vẫn tuyên bố: "Về Huế là tự mình đưa chân vào cho ngục thất, mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quý, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và còn có tội với hậu thế" [16]

Sau khi giúp vua Hàm Nghi xây dựng căn cứ lãnh đạo phong trào kháng Pháp, nhận thấy tương quan lực lượng khá chênh lệch, vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết đã để cho hai con trai của mình là Tôn Thất Tiệp và Tôn Thất Đàm tiếp tục duy trì "triều đình Hàm Nghi" chống Pháp, cử Trần Xuân Soạn ra Thanh Hóa giúp tổ chức phong trào chống Pháp còn ông  cùng với một vài thuộc hạ tìm đường sang Trung Quốc cầu viện. Tháng 2 - 1887 ông đến Quảng Đông. Việc cầu viện không được như mong muốn nhưng ông không nãn chí. Đến cuối năm 1888, được tin thuộc hạ là Trương Quang Ngọc làm phản bắt vua Hàm Nghi giao nộp cho Pháp, hai người con ông là Tôn Thất Tiệp và Tôn Thất Đàm  tuẫn tiết, ông phẫn nộ vô cùng. Ông tìm gặp Nguyễn Thiện Thuật đang lưu vong tìm cách liên lạc với các phong trào văn thân trong nước.

Lúc này tại Thanh Hoá, cuộc khởi nghĩa Ba Đình bị dập tắt, căn cứ của Trần Xuân Soạn bị mất, nên ông Soạn đã vượt biên sang Trung Quốc gặp ông tại Quảng Đông. Việc cầu viện không thành. Dựa vào tình cảm cá nhân, ông vận động được một số quan lại Mãn Thanh có đầu óc chống Pháp giúp ông và các đồng sự của ông liên lạc được với các tổ chức kháng chiến chống Pháp trong nước, mua sắm vũ khí, đạn dược về cho nghĩa quân. Trâu bò, lúa gạo từ Việt Nam được chuyển sang Trung Quốc và đổi lấy vũ khí đưa về. Việc tiếp tế này duy trì mãi đến năm 1894 thì kết thúc do biên giới Việt - Trung bị khoá. Tống Duy Tân sau khi thất bại ở Thanh Hóa đã sang Quảng Đông gặp ông, nhưng năm 1888 ông lại cử Tống Duy Tân về xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hùng Lĩnh.

 Năm 1889, Tôn Thất Thuyết cử người về Hà Tĩnh và phong cho Phan Đình Phùng làm Bình Trung tướng quân. Hầu hết các tướng lĩnh vùng Đông Bắc và Bắc Kỳ đều có sự liên lạc với Tôn Thất Thuyết. Ông đã tổ chức nhiều hoạt động chống Pháp ở vùng Đông Triều liên tục trong những năm 1891 - 1892. Những năm 1892 - 1895, do bị mất liên lạc trong nước, ông đã xây dựng nhiều toán quân có vũ trang mà chủ yếu là người Hoa và dân tộc thiểu số. Tháng 6 năm 1892, ông đã chỉ đạo cho Lương Phúc đưa quân xâm nhập tổng Hoành Mô thuộc Móng Cái, phát tuyên ngôn dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi để đánh Pháp. Đầu năm 1893, ông đã chỉ đạo cho Vũ Thái Hà tiến vào Bình Hồ cũng thuộc Móng Cái để tấn công Pháp cũng dưới danh nghĩa Cần Vương.

Tháng 3 - 1895, ông cho một đạo quân tiến đánh Cao Bằng, chiếm vùng Lục Khu nhưng bị Pháp đẩy lui. Từ năm 1895, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, biên giới Việt - Trung bị kiểm soát chặt chẽ, người Pháp yêu cầu nhà Mãn Thanh quản thúc Tôn Thất Thuyết, theo dõi Lưu Vĩnh Phúc nên các hoạt động của ông buộc phải chấm dứt. Ông bị cấm túc, không được ra khỏi nơi cư trú. Trong những năm cuối đời, ông thường có cơn điên loạn và thường múa gươm chém vào những tảng đá trong vườn. Có lẽ do lòng khát khao cứu nước và đánh thực dân Pháp vẫn còn trong ông cho đến phút lực tàn sức kiệt vẫn chưa nguôi. Nhân dân vùng Long Châu, Quảng Đông, Trung Quốc rất trân trọng vị thân vương nước Nam và gọi ông là "Đả thạch lão" (Ông già chém đá). Ông mất tại Trung Quốc vào ngày  22 - 9-1913.

3.3.Trần Xuân Soạn  (1849 - 1923)

Quê: làng Thọ Hạc (nay là xã Đông Thọ), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Thuở nhỏ theo võ nghiệp, nổi tiếng là người có sức mạnh, tay không có thể địch nổi hàng trăn người.

Trần Xuân Soạn (1849-1923)- sắc son một lòng với nước

Ông đầu quân làm lính. Vì có tài quân sự nên ông được thăng cấp rất nhanh. Lúc đầu thăng Suất đội, Hiệp quản rồi Lãnh binh. Ông được Tôn Thất Thuyết rất tin dùng, cất nhắc lên Đề đốc Nam Định, rồi Đề đốc Hộ thành Kinh đô Huế. Khi vua Hàm Nghi lên ngôi ông được thăng Tả quân Đô thống. Ông được Tôn Thất Thuyết giao chỉ huy đội quân Phấn Nghĩa do Tôn Thất Thuyết thành lập.  Trong đêm 22 rạng ngày 23-5 Ất Dậu (6 rạng 7-5-1885) ông được cử tập kích Đồn Mang Cá do Pháp chiếm đóng. Cuộc tập kích không thành, Kinh đô thất thủ ông được lệnh Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi xuất bôn, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhiều người yếu không hăng hái ra đi, sợ lệnh của ông cũng cố gắng cất bước. Lúc đầu ra thành Quảng Trị, mấy hôm sau ông rước vua lên thành Tân Sở đã chuẩn bi từ trước. Nhận thấy Tân Sở có nhiều nhược điểm cho một cuộc kháng chiến lâu dài, ông cùng Tôn Thất Thuyết  rước xa giá băng rừng lội suối ra Hà Tĩnh. Xa giá dừng lại tại Ấu Sơn (Hà Tĩnh) ông  tiếp tục ra Thanh Hóa cùng với Phạm Bành, Đinh Công Tráng xây dựng cứ điểm Ba Đình (Thanh Hoá), trực tiếp chỉ huy cánh quân ở Quảng Hoá (thuộc huyện Vĩnh Lộc) để hỗ trợ các căn cứ Ba Đình và Mã Cao (Yên Định, Thanh Hoá). Cuối năm 1886, Ba Đình, Mã Cao thất thủ, ông rút quân lên Điềm Lư, châu Quan Hoá (nay là huyện Bá Thước) xây dựng lại lực lượng. Ít lâu sau, ông vượt biên sang Quảng Đông cùng với Tôn Thất Thuyết lo cầu viên. Việc cầu viện không được như mong muốn. Đến cuối năm 1888, lại nghe vua Hàm Nghi đã bị bắt, ông thất vọng ôm mối hận ở nước người cho đến lúc qua đời  tại Trung Quốc[17].  

3.4. Phạm Thận Duật (1825–1885)

Phạm Thận Duật có hiệu là Quan Thành, hiệu là Vọng Sơn (tên một ngọn núi ở quê Ninh Bình của ông), quê ở làng Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, Ninh Bình. Ông sinh ngày 4 tháng 11 năm Ất Dậu (1825), trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống hiếu học. Năm 9 tuổi, ông học Nho học ở thầy Vũ Phạm Khải ở làng bên, nhưng chỉ được vài ngày thì Vũ Phạm Khải phải lên đường vào kinh nhậm chức, Phạm Thận Duật đến học người cậu ruột là Nguyễn Hữu Văn. Sau đó theo học thầy đồ Phạm Tư Tề là người làng, ra Xuân Trường (Nam Định) mở trường dạy học. Sau 4 năm, ông quay về học Lục Khê cư sĩ Phạm Đức Diệu, người Nộn Khê cùng huyện Yên Mô, sau này trở thành nhạc phụ của ông. Lục Khê cư sĩ nhận thấy tư chất tốt của ông nên năm ông 21 tuổi đã đưa ông đến nhờ người bạn thân là Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, người Nam Định khi ấy vừa cáo quan về quê mở trường dạy học.Năm 1850, ông thi đỗ Cử nhân ở trường Nam, năm sau vào dự thi Hội ở Huế nhưng không đỗ. Tuy nhiên, với mảnh bằng Cử nhân, ông vẫn được triều Tự Đức triệu ra làm quan.

- Khoảng năm 1851, ông được bổ làm giáo thụ huyện Đoan Hùng, rồi thăng Tri châu Tuần Giáo. Trong dịp này, ông đã viết cuốn Hưng Hóa ký lược vào năm 1856 với bút danh là Quan Thành.

 - Năm 1857, ông được cử về làm tri châu Quế Dương, rồi thăng tri phủ Lạng Giang, một thời gian lại được thăng lên quan tỉnh, trải các chức Bang biện tỉnh vụ kiêm Đồn điền sứ, Án sát sứ, Bố chính sứ Bắc Ninh rồi quyền Tổng đốc Bắc Ninh.

 - Năm 1870-1871, ông tham gia diệt trừ thổ phỉ vùng biên giới trung du.       

 - Đến năm 1873, khi Pháp đánh ra Bắc Kỳ, ông được cử đi tiếp quản các tỉnh và cắt đặt quan chức lâm thời, sau đó về giữ chức quyền Tuần phủ Hà Nội.    

 - Năm 1874, ông được cử làm Tuần phủ Bắc Ninh, mở cuộc hành quân tiễu phạt thổ phỉ trên biên cương phía Bắc thắng lợi.

- Đến năm 1875, ông được cử làm Hộ lý cho Hiệp đốc Tôn Thất Thuyết, coi sóc việc hành chính hai tỉnh Bắc Ninh - Thái Nguyên, đóng ở Thái Nguyên.

 - Năm 1876, ông được triệu về Huế làm Tham tri Bộ Lại, kiêm Phó Đô sát ngự sử, được 4 tháng lại ra Bắc giữ chức Hà đê sứ, đôn đốc việc đắp đê Sông Hồng và chuyên lo về thuỷ lợi.

 - Năm 1878, ông được sung vào Viện cơ mật, sư bảo (thày dạy) cho hai Hoàng tử con nuôi vua Tự Đức là Ưng Chân (sau nầy là vua Dục Đức) và Chánh Mông (vua nầy là vua Đồng Khánh), sau lại sung Quốc sử quán, Phó Tổng tài, kiêm quản Quốc tử giám, Tổng kiểm duyệt và in ấn bộ sử “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”.

Trước khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai (1882), ông đã có “bản mật tấu” gửi triều đình Huế, trong đó nêu những biện pháp phòng chống địch. Ông chủ trương và tích cực xây dựng những đồn sơn phòng ở vùng rừng núi hiểm yếu, chuẩn bị căn cứ chống Pháp ở Quảng Bình, Hà Tĩnh và nhất là căn cứ Tân Sở (Quảng Trị) với một quy mô khá lớn. Kế hoạch của ông được các đại thần chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường tán thành và cho thực hiện ngay.

- Trước tết Quý Mùi (1883), ông được cử đưa đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Thiên Tân (Trung Quốc) để thảo luận về việc hợp tác đánh Pháp, nhưng không thành.

- Đầu năm 1884, ông được giao nhiêm vụ Toàn quyền đại thần ký Hòa ước Giáp Thân 1884 gồm có 19 điều khoản vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 tại kinh đô Huế. Đại diện các phía nhà Nguyễn là Phạm Thận Duật - Toàn quyền đại thần, Tôn Thất Phan - Phó Toàn quyền đại thần, Nguyễn Văn Tường - Phụ chính đại thần và phía Pháp là Patenôtre - Sứ thần Cộng hòa Pháp. Cuối năm 1884, ông được chuyển đổi qua lamg việc ở Bộ Hộ

- Đầu năm 1885, ông được thăng lên Hiệp biện Đại học sĩ, kiêm Công bộ Tả tham tri bộ Công, phụ trách tài chính, giao thông, dinh điền, thuế vụ, kho tàng, thương mại, hầm mỏ, văn hoá. Ông đã cho mở liên tục hai năm 1884 và 1885 hai khoa thi Hương, thi Hội để tuyển chọn nhân tài giúp nước. Ông được thăng lên Hiệp biện Đại học sĩ, kiêm Công bộ Tả tham tri. Từ đó ông được Tôn Thất Thuyết tín nhiệm và được xem như  một thành viên chủ chốt trong phái “Chủ chiến” với Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.

Sau trận tập kích của quân triều đình vào đồn quân Pháp ở Mang Cá và Toà Khâm sứ vào đêm 5 - 7 - 1885, thực dân Pháp chiếm thành Huế. Phạm Thận Duật và những quan quân trung thành đã phò vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), phát Chiếu Cần Vương chống Pháp. Ngày 29 -g 7 - 1885, trong lúc chuẩn bị vượt biển ra Bắc để tổ chức kháng Pháp, ông bị tay sai thân Pháp bắt cùng toàn bộ gia đình và bị giải về Huế. Ông từ chối mọi sự mua chuộc, dụ dỗ của Pháp và chấp nhận án tù giam ở Côn Đảo, rồi bị đày đi Tahiti. Sau 6 ngày lênh đênh trên tàu đi đày biệt xứ, do bị bệnh tiểu đường tái phát, ông từ trần ngày 23 - 10 - 1885 ở vùng biển Malaysia.

Tương truyền, ông được liệm trong một bộ quần áo trắng, thi hài bỏ vào chiếc bao rồi thả xuống biển khơi. Mấy năm sau, con cháu và người làng mới biết tin ông mất, đã lập một mộ giả tại làng quê để tưởng niệm ông. Trên nấm mộ giả này có một tấm bia đá do Vũ Kế Xuân soạn, nói về hành trạng của ông, nhưng phải chôn sấp mặt bia xuống mộ để che mắt người Pháp. Năm 1961, sau 73 năm, bia mới được dựng lên để mọi người biết công trạng và tài đức của Phạm Thận Duật, một văn thân yêu nước, một đại thần kiên quyết “chủ chiến” chống Pháp xâm lược trong triều đình Tự Đức.

Tên ông được dùng để đặt cho đường phố Hà Nội. Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho một giải thưởng trong các lĩnh vực Sử học và khuyến học.

3.5. Tôn Thất Đàm (1864-1888)

Tôn Thất Đàm là con trai trưởng của Tôn Thất Thuyết, từng đảm nhận chức vụ Khâm sai chưởng lý quân vụ đại thần. Cùng em trai Tôn Thất Tiệp, ông là một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương[18].

Ngày 4-7-1885 , Tôn Thất Thuyết cho quân đánh úp vào trại lính ở Mang Cá và Tòa Khâm sứ Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết rước ra thành Quảng Trị, sau đó lên Sơn Phòng Tân Sở rồi về vùng Tuyên Hoá, Quảng Bình. Tại Tân Sở vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Tôn Thất Đàm thay cha điều hành "triều đình Hàm Nghi" và cùng em Tôn Thất Tiệp được cha giao cho nhiệm vụ bảo vệ vua Hàm Nghi trong khoảng thời gian từ tháng 2 -1886 đến tháng 10 - 1888.

Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị một thuộc hạ là Trương Quang Ngọc làm phản đem quân tới bắt. Tôn Thất Tiệp bảo vệ vua và bị giết chết. Tôn Thất Đàm đã tự sát vào ngày 15 - 11 - 1888  khi hay tin vua Hàm Nghi bị lọt vào tay quân Pháp.

Có nguồn cho rằng khi vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Đàm đang đóng quân ở Hà Tĩnh. Nghe tin, ông viết cho vua Hàm Nghi một bức thư tạ tội đã không bảo vệ được vua. Và một bức thư cho thiếu tá Dabat, đóng ở đồn Thuận Bài xin cho bọn thủ hạ ra đầu thú về làm ăn. Sau đó ông thắt cổ tự vẫn. (Viết tiếp)           

3.6.Tôn Thất Tiệp (1870-1888

Tôn Thất Tiệp là con trai thứ của Tôn Thất Thuyết. Cùng anh trai  là Tôn Thất Đàm, ông là một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương

Ngày 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cho quân đánh úp vào trại lính và Tòa Khâm sứ Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết chạy ra thành Quảng Trị, sau đó lên Sơn Phòng Tân Sở rồi về vùng Tuyên Hoá, Quảng Bình. Tại Tân Sở vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Tôn Thất Đàm cùng Tôn Thất Thiệp được cha giao cho nhiệm vụ bảo vệ vua Hàm Nghi.

Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị một thuộc hạ là Trương Quang Ngọc làm phản đem quân tới bắt. Tôn Thất Tiệp bảo vệ vua và bị giết chết trước mặt vua Hàm Nghi ngày 1 tháng 11 cùng năm tại Tuyên Hoá. Khi đó ông mới 18 tuổi.

Hà Nội, HuếThành phố Hồ Chí Minh có những con đường được mang tên ông.

3.7. Hồ Văn Hiển (1825-1885)

Sinh ngày12-5-1825, tại làng An Ninh Thượng xã Hương Long, Thành phố Huế, con ông Hồ Văn Trị.

Xuất thân trong một gia đình nông dân, nhưng ông lại theo binh nghiệp. Năm ông 56 tuổi (1881) dưới thời vua Tự Đức, ông làm Thống chế lãnh Chưởng vệ viện Thượng Tứ kiêm quản cẩn hộ sung Quản lãnh Thị vệ Đại thần. Hai năm sau (1883) thăng lên Thự Đô thống, đến cuối năm đó ông lãnh chức Đô thống Hữu quân. Trong lễ Ninh lăng vua Tự Đức ông được sung vào Táng nghi thị hầu. Thời vua Kiến Phúc (1884) ông được giao kiêm coi Tiền quân rồi kiêm quản Anh danh Giáo dưỡng. Tháng 6-1884, ông được chọn làm Giám thí thi Điện (tức thi Đình). Đến  đầu đời Hàm Nghi (1885) ông thực thụ Thống chế.

Cuộc đánh Pháp tối 22 rạng ngày 23-5 Ất Dậu không thành, Kinh đô thất thủ, ông phò vua Hàm Nghi và Tam cung ra Quảng Trị. Trên đường đi, xa giá ghé qua Chợ Thông (nay thuộc xã Hương Long), ông đã đốc thúc dân làng quê ông phục dịch xa giá rất đắc lực.

Khi hay tin Nguyễn Văn Tường đầu hàng Pháp và có ý dụ vua Hàm Nghi về ông đòi chém đầu Nguyễn Văn Tường.

Dừng chân ở tỉnh thành Quảng Trị thấy không ổn, Tôn Thất Thuyết bí mật bàn với ông và các đại thần Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ rước vua lên sơn phòng Tân Sở.  Những quan lại đầu hàng Pháp tìm mọi cách chiêu dụ ông về. Không dụ ông được, chúng tịch thu gia sản của ông cùng với gia sản của các lãnh tụ Cần Vương Trần Xuân Soạn, Phan Văn Mỹ.

Trong những ngày chiến đấu bảo vệ vua Hàm Nghi ở miền rừng núi Việt Lào, do lam chướng ông ngã bệnh và qua đời vào ngày 6-9-1885. Sau nầy, các hậu duệ của ông đi tìm và cải táng hài cốt của ông về quê ông. Ông mất đã tròn 125 năm. Nhưng uy danh của ông vẫn còn sống với dân các láng Trúc Lâm, An Ninh Thượng xã Hương Long Thành phố Huế ngày nay. Rất tiếc cho đến nay giới sử học Việt Nam khi nghiên cứu về ngày Thất thủ Kinh đô-vua Hàm Nghi xuất bôn ít khi nhắc đến tên ông.      .  

*

*       *

Kết: Mảnh đất thuộc làng Mai Đàn, xã Cam Chính, huyện Cam Lộ tỉnh Quang Trị ngày nay, cách đây trên 125 năm là một vùng đồi khỉ ho cò gáy. Chính vì địa thế hẻo lánh ấy mà vua quan triều Nguyễn đã chọn xây dựng tại đó một sơn phòng để khi cần đặt bộ đầu não lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp trong tương lai. Cơ sở ấy được đặt tên là Tân Sở. Công dụng của Tân Sở đã được lịch sử chứng minh là có thực. Tại nơi đây, ông vua trẻ Hàm Nghi đã phát ra Hịch Càn Vương (nhiều tài liệu viết là Chiếu Cần Vương) kêu gọi thần dân giúp vua cứu nước. Từ đó (tháng 7-1885) dân tộc Việt Nam khi dưới danh nghĩa Cần Vương, Văn Thân, Quang Phục Hội, Duy Tân, Quốc Dân Đảng, Việt Minh, khi ở đồng bằng, khi ở rừng núi, khi vào các đô thị, không ngừng nổi dậy đấu tranh giải phóng dân tộc. Đến 1954 giải phóng được nửa nước. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận giải phóng, tháng 5-1975, cuộc đấu tranh vừa tròn 90 năm (1885-1975) dân tộc ta đã hoàn toàn giải phóng được đất nước. Dưới con mắt của giới sử học, Tân Sở của Quảng Tri là điểm khởi đầu kháng chiến gian khổ, Dinh Độc Lập Thành phố Sài Gòn là nơi kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Dân tộc Việt được hưởng hạnh phúc thống nhất, hòa bình, độc lập hôm nay không thể không nhớ ơn những nhân vật đã đem lại giá trị lịch sử cho Tân Sở.

HỘI THẢOTHÀNH TÂN SỞ VỚI PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG, CAM LỘ 13-7-2010                  

Huế, 18-6-2010,

Nguyễn Đắc Xuân

Tài liệu tham khảo

Cao Lượng, Cuộc Lưu Vong Của Vua Hàm Nghi (dịch), BAVH

Ch.Gosselin, trích L’ Empire d’ Annam, Paris 1904

Cổ Nhi Tân, Tôn Thất Thuyết (Tiểu truyện danh nhân), Tủ sách Tiến bộ Sài Gòn 1969

Đỗ Bang, Từ điển luịch sử Thừa Thiên Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế 2000

H. de Pirey, Une Capitale Éphémère: Tân Sở, BAVH

L.Cadière et Cosserat, Les postes Militaires du Quang Tri et du Quang Binh en 1885-1890; BAVH,

Marcel Gaultier, Le Roi Proscrit , Hà Nội, IDEO, 1940,

Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các ông hoàng  triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa Huế 1998

Nguyễn Đắc Xuân,  Vua Hàm Nghi-một tâm hồn Việt ở chốn lưu đày, Nxb Thuận Hóa Huế 2008

Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, in lần thứ 5, Nxb Văn Hóa, HN 1999

Nguyễn Quang Trung Tiến. Vị vua trưởng thành từ niên thiếu. T/c Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(7), 1995.

Nguyễn Xuân Thọ, Bước đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897), Tác giả xuất bản tại Pháp, 1994.

Phạm Văn Sơn. Việt Nam cách mạng cận sử. Sài Gòn. Khai Trí phát hành, 1963

Phan Quang, Vua Hàm Nghi Ghé Làng Tôi, t/c Sông Hương, 4-1989

Phan Trần Chúc, Vua Hàm Nghi, Nxb Nam Ký 1935

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục CB, Tập 8 và Tập 9, Nxb Giáo Dục, HN 2007

Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn (1884-1945), tập 2, Nxb Văn Hóa (Houston, Hoa Kỳ), 2000


[*]  Nguyễn Đắc Xuân, Ủy viên Hội đồng Khoa học Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 72 Trần Quốc Thảo, Q.3 TP HCM, DĐ 0914.20.39.44, E-mail: gactholoc@yahoo.com

[1] Nhiều sử sách viết là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp. Nhưng theo gia phả thì ên của hai anh em con trai Tôn Thất Thuyết là tôn Thất Đàm và tôn Thất Tiệp.

[2] Quốc sử quan triều Nguyễn, Nxb Giáo Dục, HN. 2007, tr.147

[3] Marcel Gaultier. Le Roi Proscrit. Hà Nội, Impr. d'Extrême-Orient, 1940, tr. 40 - 41

[4] Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Hà Nội, Chinh Ký, 1952, tr. 142

[5] Ch. Gosselin. L' Empire de l' Annam. Paris, Perrin et Cie, p. 239, 237

[6] Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Hà Nội, Chinh Ký, 1952, tr. 142

[7] Về ngày vua Hàm Nghi bị bắt các tài liệu chép lại mâu thuẫn nhau. Có thể là một trong các ngày 26- 9, 30 - 10, 2 - 11 -1888, 14 - 11, theo Nguyễn Phúc tộc Thế phả, vua Hàm Nghi bị bắt vào ngày 26-9 Mậu Tý nhằm ngày 30-10-1888.

[8] Xem Nguyễn Đắc Xuân, Ông vua câm  trong sách Chuyện các ông hoàng Triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế 1997, tr.66

[9] Phan Trần Chúc, Vua Hàm Nghi, tr.239

[10] Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi,tr. 241

[11] Theo bà Như Lý vào năm 1943, Villa des Pins dành cho tướng de Gaulle đặt bản doanh của Pháp Tranh đấu (France Combattante) tại Bắc Phi. Sau de Gaulle là tướng Giraud. Đến khi Algérie độc lập, Villa des Pins lại được trưng dụng làm nhà riêng cho Đại sứ Liên xô. 

[12] Ông nầy về sau qua Việt Nam, dạy học ở trường Pellerin và mất ở Huế vào khoảng năm 1912

[13] Dẫn theo BAVH, số 3, Juillet-Sep/1941, tr. 308

[14] Trích lại từ  La Cour d’Annam en fuite dans la provine trong sách Le Laos et Le Protectorat Francais  của Charles Gosselin, tr. 164

[15] Muốn tham khảo chi tiết hơn xin tìm đọc Nguyễn Đắc Xuân, Vua Hàm Nghi - một tâm hồn Việt ở chốn lưu đày, Nxb Thuận Hóa Huế 2008

[16] Phạm Văn Sơn. Việt Nam cách mạng cận sử. Sài Gòn, Khai Trí phát hành, 1963, tr. 44

[17]  Theo Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc.

[18] Theo gia phả nhà cụ Tôn Thất Thuyết (hiện để tại nhà thờ ở Bên Ngự) thì hai con trai của ông là Tôn Thất Tiệp và Tôn Thất Đàm chứ không phải là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm như nhiều sử sách lâu nay đã viết.

 

 
 
Các bài Vua quan triều Nguyễn