Những người Hà Nội đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa Huế vào thế kỷ XIX
Vua Gia Long phục hưng nhà Nguyễn ở miền Nam, các trí thức công thần buổi đầu của nhà Nguyễn đều là người Nam. Đến đời vua thứ hai nhà Nguyễn là Minh Mạng, bắt đầu trọng khoa cử Nho học thì nhiều người tài miền Bắc được phát hiện và trọng dụng.

Khoa thi Hội đầu tiên (Khoa Nhâm Ngọ, 1822) tổ chức ở Huế, ông Nguyễn Ý – người Văn La, Thanh Trì, Hà Nội đỗ Hoàng Giáp, người đỗ đầu Tiến sĩ khoa đó cũng là một người Hà Nội - ông Lê Quang – người Bình Vọng, huyện Thường Tín (Thượng Phúc cũ). Cho đến khoa thi Hội cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919) triều Khải Định, ông Dương Thiệu Tường người xã Vân Đình (Hà Đông, nay là Hà Nội) cũng đỗ Tiến sĩ làm Thừa phái ở Viện Cơ Mật. Trải qua đúng 100 (1822-1919) ấy, biết bao nhà khoa bảng Hà Nội đã đóng góp trí tuệ tài năng của mình cho việc xây dựng và phát triển về nhiều mặt của nhà Nguyễn.

Trong số đông đảo tên tuổi gắng liền với lịch sử ấy có ba người – theo tôi, nổi tiếng nhất dưới thời vua Tự Đức và các vua kế tiếp. Đó là các ông Nguyễn Văn Siêu (1795-1872), Cao Bá Quát (1809-1855), Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902). Họ nổi tiếng bởi vì họ đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa  triều Nguyễn vào thế kỷ XIX.     

1. Nguyễn Văn Siêu (1795-1872)

Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Tự là Tốn Ban, hiệu là Phương Ðình, quê làng Lủ (Kim Lũ) nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai Hà Nội.

Ông thi Hương đỗ Á nguyên năm 1838, thi Hội đỗ Phó Bảng. Năm 39 tuổi (1844) ông được bổ làm quan Kiểm thảo viện Hàn lâm, rồi trải qua các chức vụ Chủ sự bộ Lễ, Thị giảng học sĩ...Cuối năm 1848, ông được cử làm (Ất) Phó sứ sang Trung Quốc. (Chánh sứ là Hữu Thị Lang bộ Lễ Phan Tĩnh, Giáp Phó sứ là Hồng Lô tự khanh Mai Đức Thường). Khi về ông được thăng Học sĩ Viện Tập hiền, rồi ra làm Án sát Hà Tĩnh. Năm 1854 ông dâng sớ điều trần nhiều việc, triều đình bỏ qua không xem xét đến, chán nản ông từ quan, lui về quê chuyên tâm soạn sách. Cuối năm 1864, vua Tự Đức nghĩ Nguyễn Văn Siêu là người “có tiếng hay chữ” sai bộ Lễ thăm hỏi để bổ dụng lại, nhưng ông từ chối vì đã gần đến 70 tuổi – tuổi hưu trí. Vua cho ông nghỉ hưu với hàm Thị độc. 

Nguyễn Văn Siêu là bạn thơ văn với Cao Bá Quát, Phạm Quý Thích, anh em hai ông hoàng Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương. Vua Tự Ðức hết mực khen tài năng của ông và Cao Bá Quát. Tài văn chương của ông được người đương thời hết lời ca tụng. Xem ông và bạn Cao Bá Quát của ông là “Thần Siêu, thánh Quát”. Ông là người đứng ra tu tạo lại di tích đền Ngọc Sơn - Tháp Bút - Ðài Nghiên có quy mô như ngày nay. Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như Phương Đình Thi Tập (gồm 4 quyển), Phương Đình Văn Tập (gồm 5 quyển), Tùy Bút Lục (gồm 6 quyển)  và nổi tiếng nhất là bộ Phương Đình Đại Việt Địa Lý Chí cũng có tên là Phương Đình Địa Chí loại, hay tên thường dùng là Phương Đình Địa Dư Chí.

Phương Đình Nguyễn Văn Siêu in năm Thành Thái 12. Sách gồm 3 tập chia làm 4 chương: thời Bắc thuộc, từ nhà Đinh đến nhà Lê, từ Nguyễn Gia Long đến Tự Đức 18 (1855) và một số truyện ký về Ai Lao, Cao Miên.

2. Cao Bá Quát (1809-1855)

Lúc Cao Bá Quát được triệu vào làm quan (1841), Kinh đô nhà Nguyễn đã trải qua hai triều Gia Long, Minh Mạng ngót 40 năm khá vững vàng. Tầng lớp trí thức gồm các hoàng tử con vua Minh Mạng và các nhà khoa bảng tuyển chọn từ nhiều vùng trong nước cũng khá đông. Để tương xứng với vị trí của mình ở Đông Nam Á, vua Minh Mạng đổi tên nước Việt Nam thành nước Đại Nam. Văn chương - văn hoá được đề cao, nhiều thi bá xuất hiện. Tùng Thiện Công Miên Thẩm (sau nầy là Tùng Thiện Vương) - hoàng tử thứ 10 của vua Minh Mạng, rất hay chữ - đã cùng với các thi bá đất Thần Kinh dựng nên Thi xã Mặc Vân14. Tùng Thiện công được bầu làm Hội chủ và Hội chủ lấy phủ riêng của mình trên bờ sông Lợi Nông làm hội sở. Những người có chân trong Thi xã  đều là hoàng thân, quốc thích, danh công, cự khanh có tài thơ như Tuy quốc công Miên Trinh (sau là Tuy Lý Vương), Tương An công Miên Bửu, Thọ Xuân công Miên Định, Hàm Thuận công Miên Thủ, Hoằng Hoá công Miên Triện và các quan Phan Thanh Giản, Hà Tôn Quyền, Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Văn Siêu .v.v. Thỉnh thoảng. Thi xã họp mặt để cùng nhau xướng hoạ thơ văn. Sáng tác của Thi xã truyền đi lừng danh cả hai miền Nam Bắc giống như Hội Tao Đàn dưới triều Lê Thánh Tôn vậy.

Chuyện kể rằng: Sau khi nghe tin Cao Bá Quát về Kinh phục chức (1847), có người đã đem cho ông xem những bài thơ xướng hoạ trong Thi xã, ông xem qua rồi vừa lắc đầu vừa bịt mũi ngâm 2 câu :

Ngán cho cái mũi vô duyên

Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An”.

Đem cái mùi thơ của Thi xã Mặc Vân ví với mùi hôi của thuyền chở nước mắm Nghệ An thì thật quá đáng. Các thành viên trong Thi xã hết sức căm giận sự kiêu ngạo của Cao. Riêng chỉ có hai anh em ông Miên Thẩm và Miên Trinh là những người có độ lượng và biết trọng nhân tài, trước đây họ đã nghe tài thơ của Cao Bá Quát và cũng đã biết rất rõ cái tính ngông của Cao Chu Thần nên vẫn thấy bình thường. Không những không giận mà ngược lại hai ông còn hạ mình tìm đến thăm Cao và tìm cách mời Cao tham gia Thi xã.  Hai ông đến nhiều lần, Cao Bá Quát cho người nói thác đi vắng, không tiếp. Rồi một hôm, Tùng Thiện công - Hội chủ Thi xã, một mình vi hành đến gặp lúc Cao Bá Quát đang loay hoay làm những việc vặt trong nhà thay cho người giúp việc (vì lương bổng ít quá chưa thuê mướn được). Không thể thoái thác, Cao Bá Quát  phải tiếp Tùng Thiện công và biết Tùng Thiện công là người lễ hiền hạ sĩ15 nên Cao Bá Quát thay đổi thái độ đem lòng mến mộ công. Từ đó hai ông Miên Thẩm và Miên Trinh lui tới thăm viếng đàm đạo chuyện thơ văn với Cao Bá Quát thường xuyên. Chia xẻ bớt một phần khó khăn về đời sống của nhà thơ “tài tử đa cùng”, hai ông thường giúp đỡ bạc tiền, nhiều khi còn tặng cho Cao những hàng tơ lụa quí mà nhà vua đã ban tặng cho hai ông. Đang trong thời gian giao thiệp vui vẻ thì một người con Cao Bá Quát bị bệnh và qua đời ở Hà Nội. Ông thương con đau buồn vô cùng, nhưng ông cố giấu nỗi lòng mình. Không ngờ Tùng Thiện công biết đem đến tặng ông mấy thứ phẩm vật cần thiết kèm theo một bài thơ. Cao Bá Quát cảm động quá, không những cảm động vì lòng tốt của người mà còn cảm  thương cho cái đời nghèo túng của mình để phải bận lòng “người thương” cứ tư cấp cho mình mãi. Không biết lấy gì tạ ơn, Cao Bá Quát viết một bài thơ với 2 câu kết là:     

      Thùy đạo Mao khanh thành lục lục

      Bình Nguyên môn hạ cánh ta đà             

      “Ai biết chàng Mao mà đến vậy

      La cà mãi dưới cửa Bình Nguyên”.

Bình Nguyên quân, một người quyền quý rất hiếu khách đời Chiến Quốc, giống như Mạnh Thường Quân; còn chàng Mao tức là Mao Toại, một thực khách của Bình Nguyên quân. Cao Bá Quát tự than thân của mình cũng ở trong cảnh ngộ giống như Mao Toại vậy.   

Trước nhiệt tình của Tùng Thiện, Cao Bá Quát cuối cùng rồi cũng nhận lời tham gia Mặc Vân Thi xã và cùng xướng hoạ để lại  nhiều thơ văn hay.

Thời ấy, gặp lúc vua Tự Đức - một ông vua hiếu văn, lên ngôi (1847) nên văn chương thi phú đất Thần kinh có cơ hội vươn lên thời cực thịnh.

Sau khi họ Cao bị tru di tam tộc, các tác phẩm của Cao Bá Quát bị cấm lưu hành và bị thu hồi đốt. Tuy vậy đến nay vẫn còn các tập: Cao Bá Quát thi tập, Cao Chu thần di cảo, Cao Chu thần thi tập, Mẫn Hiên thi tập. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chúng tôi, đã sưu tâm, dịch thuật và xuất bản được: 15 bài thư Nôm (chưa kể 8 bài còn tồn nghi), 418 bài thơ chữ Hán. Và hện nay, đã sưu tầm thêm được nhiều tác phẩm nưa, đang dịch và chuẩn bị in và phát hành trong năm 2010 nầy. Thơ văn Cao Bá Quát dù bằng chữ Nôm hay chữ Hán đều hay và có giá trị nghệ thuật. Nội dung các tác phẩm chủ yếu phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ và mong muốn thay đổi xã hội. Nhìn chung, thơ văn ông mới mẻ, phóng khoáng, chú trọng tình cảm riêng của con người, nên đương thời rất mến mộ. Mới đây (năm 2004), xuất bản cuốn Cao Bá Quát, Tư liệu – bài viết từ trước đến nay (2004), mở đầu Lời giới thiệu, GSTS Mai Quốc Liên – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học viết: “Cao Bá Quát là một trong những nhà thơ vĩ đại hàng đầu của văn học dân tộc. Thơ ông về mặt phóng khoáng, hào mại...có thể sánh với Lý Bạch, về mặt yêu dân có thể sánh với Đỗ Phủ. Ông thừa kế chí anh hùng, phẩm chất cao khiết của Nguyễn Trãi, thua nguyễn Du về mặt làm thơ chữ Nôm, và chủ nghĩa nhân văn trác tuyệt, nhưng vượt Nguyễn Du về tầm nhìn, chí khí, thương yêu nhân dân, và hoài bảo to lớn”. (Sdd.tr.5).

 3. Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902)

Đại thần Nguyễn Trọng Hợp – một người Hà Nội.

Sách các tác gia Việt Nam thế kỷ XIX, ở Huế có hai ông hoàng con vua Minh Mạng là Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-11870) và Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820-1897) rất nổi tiếng. Hai ông hoàng hay thơ, có nhân cách nên kết giao được nhiều thức giả Nam Bắc. Ba người bạn vong niên sáng giá nhất của Miên Thẩm đều là người Hà Nội. Đó là các ông Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), Cao Bá Quát (1809-1854) và Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902) (người cùng quê Kim Lũ với Nguyễn Văn Siêu). Hai ông Siêu Quát bậc đàn anh của Miên Thẩm, sử sách đã viết nhiều và tôi cũng vừa trình bày ở trên, riêng người học trò Kim Giang Nguyễn Trọng Hợp ít được nhắc đến. Về đời tư và đời chính trị của Nguyễn Trọng Hợp tôi đã có một tham luận trong Hội thảo Khoa học tổ chức ở Hà Nội vào năm 2005[1],  trong Hội thảo nầy tôi sơ lược đến những đóng góp của Nguyễn Trọng Hợp về phương diện văn hóa thời Nguyễn.

Nguyễn Trọng Hợp là tên vua ban, tên cũ của ông là Nguyễn Tuyên (1), người xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông thi Cử nhân tại trường Hà Nội, sau đó ông vào Kinh đo Huế và ông đã lọt vào mắt xanh của Miên Thẩm. Sau nầy cháu nội của Miên Thẩm là Nguyễn Phúc Ưng Trình viết sách Tùng Thiện Vương cho biết: "Thủa ấy, Trọng Hợp mới đậu Cử nhân, còn hàn vi, Tùng Thiện Vương liên- tài, đem về nuôi dạy trong nhà". (3). Gần sáu năm học với Miên Thẩm, ông đi thi Hội và đậu đầu Tiến sĩ khoa Ất sửu năm Tự Đức thứ 18 (1865). Nguyễn Trọng Hợp làm quan từ triều Tự Đức cho đến triều Thành Thái. Trải qua 7 đời vua Nguyễn, chức vụ về hành chính chính trị ông đã trải qua từ Tổng đốc, Khâm sai đại thần, Kinh lược sứ, Thượng thư bộ Lại, Thượng thư bộ Hình lên đến Phụ chánh Đại thần triều đầu triều Thành Thái. Những chức vụ ấy đã để lại cho ông nhiều uẩn khúc, oan trái đang được giới sử học hiện đại làm sáng rõ cho ông. Cũng vi quá quan tâm đến cuộc đời chính trị của ông nên những gì ông đã đóng góp về văn hóa lịch sử thì ít được nói đến.

Trong thời gian ông làm Kinh lược sứ Bắc kỳ, ông đã xin Triều đình cho được khắc in bộ Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ là bộ hội điển lớn nhất trong kho tàng Hán Nôm của nước ta, gồm 262 quyển, khổ 323x20, khoảng 8000 tờ, đóng thành 97 cuốn.

Trong những năm làm quan tại triều, ông từng giữ chức vụ Tổng tài Quốc sử quán, kiêm quản các việc ở Khâm thiên giám. Ở cương vị Tổng tài Quốc sử quán ông đã chủ trì biên soạn hai bộ sách quan trọng vào bậc nhất nhì trong kho tàng sử sách triều Nguyễn. Đó là bộ Minh Mạng Chính Yếu và bộ Đại Nam chính biên liệt truyện.

Minh Mạng Chính Yếu: Bộ lịch sử 12 tập về các chủ trương, thể chế chủ yếu dưới thời Minh Mạng (1820-1840) gồm 22 mục: các bài chế, bài dụ của vua và các bài tấu biểu của quần thần. Mười điều Dụ của vua Minh Mạng đối với Thái tử, Hoàng tử, văn võ bá quan: phải chăm chỉ học hành, cần kiệm,…

Bộ Đại Nam chính biên liệt truyện: (soạn chung với Cao Xuân Dục), gồm 8 tập được in năm Thành Thái nguyên niên (1889) và năm Duy Tân 3 (1909). Bộ sách gồm có 3 phần: Tiền biên (nhân vật dưới tời 9 đời chúa Nguyễn), Sơ tập viết về thời Gia Long trở về trước, Nhị tập viết về thời Minh Mạng trở về sau. Toàn bộ nội dung là truyện ký về các nhân vật lịch sử của triều Nguyễn chia làm 6 mục: Hoàng hậu, Cung phi, Hoàng tử, Công chúa, Công thần nghĩa sĩ, liệt nữ (các phụ nữ có danh tiết). Đây là bộ sách đáng tin cậy được giới nghiên cứu lịch sử dùng làm tư liệu khi viết về nhân vật triều Nguyễn. Phần lớn các bản gỗ khắc in những bộ sách trên chiếm một phần quan trọng trong Mộc bản triều Nguyễn đang được lưu giữ ở Thành phố Đà Lạt và đã được UNESCO công nhận là …của nhân loại.

Bài tựa sách Phương Đình Địa Dư Chí của Nguyễn Văn Siêu.

Lịch sử địa lý các nước láng giềng: Xiêm La, Miến Điện, Cao Miên.

Kim Giang thi tập: tập thơ của Kim Giang – Nguyễn Trọng Hợp gồm 345 bài vịnh phong cảnh, cảm tác, tức cảnh, tiễn tặng, hoạ đáp, mừng viếng bạn bè, hoạ thơ vua, vịnh các cửa biển, kênh đào, thành phố, các nước trên đường đi từ Việt Nam qua Pháp và 36 bài vịnh về thành phố Paris, có tiểu dẫn.

Ngoài những công trình đã khắc in và ngày nay đã chuyển quốc ngữ, sự nghiêp trước tác Nguyễn Trọng Hợp còn được biết có:

Kim Giang văn tập: tập văn của Kim Giang – Nguyễn Trọng Hợp gồm tấu, biểu tạ ơn vua ban thơ, tạ ơn được phong tặng và đề nghị chữa cầu An Cựu (ở Huế)… Sớ về việc trị an, tuần phòng, kiểm tra cửa biển Trà Lý… Dụ của vua Thành Thái thăng chức cho Hoàng Cao Khải… Sắc của vua Thành Thái gửi quan các tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An yêu cầu giúp đỡ mấy ngưới Pháp điều tra cương giới Việt Nam và Xiêm La… Văn bia ở nhà thờ và văn từ; ký và cuộc đấu xảo ở Lion (Pháp); văn sách hỏi về đạo lý, chính trị trong Kinh, Truyện và Bắc sử; các tờ tự gửi cho các bộ, các nha về việc khám đê và thông thương với các nước phương Tây; một số bài phú, tựa, văn tế và câu đối thờ, mừng thọ, phúng viếng…

Kim Giang di thảo: tập thơ gồm 14 bài lấy tên là Hoạn trình ngẫu cảm  của Kim Giang – Nguyễn Trọng Hợp tự thuật về thân thế, thăm Khiêm lăng, qua sông Gianh, qua đò Hàm Rồng, qua núi Hoành Sơn, ăn thịt nai, v.v…

Kim Giang Nguyễn tướng công nhật lịch: tập nhật lịch ghi lại quá trình làm quan (gồm các thời kì và chức vị đảm nhiệm), con cái,

Thanh Trì Nguyễn thị thế phả: biên soạn vào năm Thành Thái 3 (1891), gồm 1 tựa, 1 ký. Sách chia làm 2 phần: phần họ nội và phần họ ngoại. Gia phả 10 đời của họ Nguyễn ở xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Nội (nay là quận Thanh Trì, thành phố Hà Nội). Nhiều người đỗ đạt và làm quan to như Nguyễn Phấn đỗ tiến sĩ triều Lê, làm Thượng thư, tặng Thái phó, tước Kiều quận công; Nguyễn Phả làm quan Hồng lô tự thừa Chiêu an sứ, tước Hầu, Cử nhân Nguyễn Cư làm Đô sát ngự sử; Nguyễn Trọng Hợp là cháu 10 đời làm đến Phụ chính đại thần, Văn minh điện Đại học sĩ, kiêm Thượng thư bộ Binh,…

Thế thứ các con cháu của Ôn Tỉnh Công; tiểu sử ông Ngoại là Trung Bình Công; bài biểu của Nguyện Trọng Hợp xin vua Thành Thái cho lập miếu thờ tổ tiên mình. Danh sách những người đỗ khoa Tân Mão ở trường Nam Định.

Thám hoa Vũ Phạm Hàm trong Bia thần đạo mộ quan Tướng quốc Kim Giang Nguyễn Công có viết: “Ông sinh thời thể chất thanh mảnh, bẩm tính trang nghiêm cẩn trọng, đức độ thuần nhất bền vững, vạn biến chẳng lay. Địa vị cao sang Tam Công đài chính, công lao mà hưởng bạc (ít), sống thanh cao, ngựa xe phẩm phục rực rỡ mà khí vận lâm tuyền (rừng suối) chẳng bỏ. Tấm lòng rộng mở thênh thênh, bao dung người vật. Thức kiến uyên thâm quảng bác, ứng phó sự cơ. Vậy nên, phụ tướng 4 triều, nêu gương sáng cho bá quan văn võ[1].

Kết: *Kinh đô Huế nức tiếng văn chương cự phách với các ông Tùng, Tuy, Siêu, Quát. Đặc biệt là hai ông Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát. Trong dân gian không ngại vinh danh hai ông là “thần Siêu thánh Quát”. Tương truyền vua Tự Đức vốn cho mình là người giỏi trong thiên hạ mà cũng phải ghi nhận tài năng của 4 ông Tùng Thiện, Tuy Lý, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát bằng 2 câu thơ để đời rằng:

                   Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

        Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường

Văn như văn của ông Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thì đoạt được cả văn của đời tiền Hán; thơ như thơ của Tùng Thiện công, Tuy Lý công thì lấn được cả thơ của thời Thịnh Đường. Ai cũng cho rằng, vua Tự Đức quá khen, vì thơ văn của 4 ông ấy làm sao có thể lấn át được thơ văn Hán Đường, nhưng qua cách khen ấy ta có thể biết được địa vị của Cao Bá Quát trên đàn văn chương ở Kinh đô Huế lúc ấy được đánh giá cao đến mức nào.

(HTKH  Hà Nội - Huế - Sài Gòn là cây một cội - 14g 26-3-2010)

Nguyễn Đắc Xuân

Tài liệu tham khảo

Cao Xuân Dục, Quốc Triều Hương Khoa Lục, Nxb TP HCM, 1993

Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện Các Quan triều Nguyễn, Nxb Thuận Hoá, Huế 2001

Marcel Monnier, Le Tour d'Asie, Librairie PLON, Paris 1899

Nguyễn Hy Xước dịch (1947), Lô Giang Tiểu Sử, In Ronéo, in đầu những năm 60 ở Huế

Nguyễn Như Thiệp và Nguyễn Văn Đề, Nguyễn Văn Siêu, Thi ca và Tiểu sử, Tân Việt, HN 1944

Nguyễn Phúc Ưng Trình, và Bửu Dưỡng, Tùng Thiện Vương (1819-1870), Huế-Sàigòn, 1970

Nguyễn Xuân Thọ, Bước đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897), dịch từ bản Pháp văn, tác giả tự xuất bản tại Châu Âu, năm 1995

Paul Doumer, L'Indo-Chine francaise (souvenirs), Paris Vulbert et Nony Éditeurs, 1905, http://tieulun.hopto.org 9 sur 10

Vũ Ngự Chiêu, Các vua Cuối Triều Nguyễn, 1884-1945, tập 2, Văn Hoá, Houston (USA),2000

Hội KHLSVN-Hội Sử học Hà Nội, Nguyễn Trọng Hợp con người và sự nghiệp, HN.1996.

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Liệt truyện, Nhị tập, Quyển 31. 

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Sử Lược, Q.hạ, Huế khoản 1922

Điền dã tại làng Kim Lũ, Thanh Trì, Hà Nội.


14 Cũng có nơi viết là Tùng Vân Thi xã

15 Lễ trọng bậc hiền, nhún nhường kẻ sĩ

[1] Nguyễn Trọng Hợp con người và sự nghiệp – tr. 100-101

 

 
 
Các bài Tham luận khác
Các bài Người ấy trong tôi