Thời Nguyễn, làm quan phải biết
Hồi tỵ là một di sản tinh thần của dân tộc VN. Nếu ngày nay chúng ta biết vận dụng chắc chắn còn tìm thấy ở luật hồi tỵ nhiều điều bổ ích cho công cuộc tổ chức bộ máy nhà nước của chúng ta.

Hồi Tỵ

Tự điển Hán -Việt của cụ Đào Duy Anh giải nghĩa: “Hồi tỵ là tránh đi. Ví như một người bổ đi làm quan đứng đầu ở một địa phương nếu có một người bà con đã là thuộc liêu ở chỗ đó thì người ấy phải tránh đi chỗ khác, thế gọi là hồi tỵ”.

Ngày xưa ông quan là “phụ mẫu chi dân” cha mẹ của dân) được nhà nước và xã hội dành cho nhiều đặc quyền như khỏi nộp thuế thân, ngoài tiền lương còn tiền dưỡng liêm, lộc điền. Ai xâm phạm danh dự và sinh mệnh các quan thì bị xử phạt nặng hơn người bình thường. Mưu hại một ông quan ngũ phẩm trở lên mắc tội thập ác. Quan lại có tội phải có chiếu của vua mới được thẩm vấn. Cha mẹ quan lại được phong phẩm hàm ngang với con. Được làm quan là hoài bảo, mộng tưởng của mọi người trong xã hội xưa.

Ông quan có nhiều quyền hành nhưng ông cũng không thể sống trên pháp luật.

Để tránh việc các quan lạm dụng quyền thế kéo bè kéo cánh bà con nội ngoại bạn bè thân thuôc để nhũng lạm ức hiếp nhân dân, nhà vua đã đặt ra nhiều luật lệ để chế tài các quan. Hồi tỵ là một trong những luật lệ ấy.

Điều 97 sách Đại Nam điển lệ cho biết: “Trước năm Minh Mạng thứ 12 (1831) các chức thông phán, kinh lịch phần nhiều là người trong địa phương... Do đó, vì tình riêng làng nước, khó lòng khỏi sự tư túi sinh ra nhiều tệ hại. “Để tránh những việc lợi dụng tình riêng bất chấp pháp luật, vua Minh Mạng cấm các quan không được đứng đầu tỉnh của mình, mà phải đứng đầu ở một tỉnh khác. Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836) tại định thêm: “lại mục, thông lại không được làm việc ở huyện nguyên quán mà phải đi làm việc ở một huyện khác”.

Tiếp tục sự nghiệp của Minh Mạng, vua Thiệu Trị qui định tiếp: “trong nha môn có nhiều người là bố vợ, anh em ruột của vợ, chồng chị, chồng em của vợ đều phải hồi tỵ’. Điều ấy có nghĩa nhà nước không biết đương sự có những người thân như thế ở cơ quan mới được bổ tới, đương sự đến thấy thế phải mang quyết định bổ dụng trả lại. Không được tự tiện đến nhận chức ở đó.

Luật hồi tỵ cũng được áp dụng trong các kỳ thi. Điều 209 (Sđd) qui định những khảo quan (chấm thi, coi thi...) nào có thân thích ứng thí ở trường thi mình có trách nhiệm thì phải khai báo và hồi tỵ để nhà nước cử người khác đến thế. Nếu cố tình không khai báo sẽ bị trọng tội vì cố ý làm trái.

Về việc điều tra, thanh tra, xét xử cũng thế. Một quan chức khi phải điều tra, thanh tra, xét sử một vụ án mà có người thân quen của mình (dâu, rể, sui gia, bà con nội ngoại, người đồng hương...) đều phải khai báo và hồi tỵ ngay.

Vận dụng luật hồi tỵ, nhà vua qui định người mang họ Tôn Thất (dòng vua) không được đứng đầu (Phủ Doãn) tỉnh Thừa Thiên. Cấm quan đứng đầu tỉnh không được lấy vợ trong trị hạt vì sợ gia đình nhà vợ nhũng nhiễu; cấm không cho tậu ruộng vườn nhà cửa ở trong trị hạt, vì sợ quan hiếp nhân dân để được mua rẻ; cấm không được tư giao với đàn bà con gái trong trị hạt để đừng treo gương xấu cho nhân dân. Đến khi quan lại đã về hưu thì có tiền hưu, cấm người đã nghỉ hưu đến cửa công để thỉnh thác cầu cạnh.

Nhờ luật pháp chặt chẽ như thế mà nhà nước thời quân chủ đã tồn tại được hàng ngàn năm. Riêng nhà Nguyễn cũng kéo dài được gần 150 năm.

Hồi tỵ là một di sản tinh thần của dân tộc VN. Nếu ngày nay chúng ta biết vận dụng chắc chắn còn tìm thấy ở luật hồi tỵ nhiều điều bổ ích cho công cuộc tổ chức bộ máy nhà nước của chúng ta.

Tiếng trống kêu oan

Ngày xưa, đến cửa quan thưa kiện một việc gì người dân thường kêu “bẩm lạy ba tòa quan lớn”.

Tại Kinh Thành Huế ngày nay, bên trong cửa Thượng Tứ có một tòa nhà lớn người dân thường gọi là Tam Tòa [1].

Vậy “ba tòa”, “Tam Tòa” có nghĩa gì, vai trò của nó trong đời sống pháp luật của người Việt Nam xưa ra sao?

Các nhà nghiên cứu cho biết dân nông nghiệp có một đặc điểm là hay thưa kiện. Mà có thưa kiện thì thường xảy ra chuyện hối lộ đút lót. Nhận đơn xử kiện là một cơ hội tốt để cho bọn tham quan ô lại sách nhiễu nhân dân. Vì thế nhà nước thời quân chủ có dụng tâm hạn chế bớt việc thưa kiện. Mặt khác nhà nước cũng áp dụng nhiều luật lệ trừng phạt nặng nề những kẻ có chức quyền có cơ hội quấy cho “đục nước” để được “béo cò”.

Cho đến triều Nguyễn, nhà nước giao cho chính quyền phủ, huyện làm quan tòa sơ thẩm. Trước tiên phủ, huyện tìm cách hòa giải. Nếu không hòa giải được thì chiếu luật định tội. Phủ huyện xử chưa xong kháng lên Tỉnh xử phúc thẩm. Ở Tỉnh quan án sát coi  việc Hình, quan bố chính coi việc Hộ. Tỉnh có quyền phán quyết. Trường hợp can phạm bị trọng tội từ án đồ (đi đày) trở lên phải báo về bộ Hình (Tư pháp) và tâu lên vua.

Nói chung việc thưa kiện xử phạt ngày xưa đa số thì đều được giải quyết ngay ở tỉnh. Mà ở địa phương cũng khó lòng tránh được việc trù dập oan ức.

Một ông vua nếu để xảy ra tình hình oan ức trong hình ngục là làm điều không thuận với lòng trời. Và như thế có thể bị trời phạt bằng giặc giã, hạn hán kéo dài, mưa bão gây ra mất mùa, thiệt hại tài sản... Các ông vua phương Đông tin như thế. Từ lòng tin đó buộc nhà vua phải có biện pháp giải tỏa sự oan ức. Cơ quan phụ trách việc “giải oan” này là Tam pháp ty.

Tam pháp ty là một cơ quan hỗn hợp gồm ba thành phần ở ba cơ quan nội chính quan trọng là bộ Hình (Tư pháp), Đô sát viện (gần giống với viện kiểm sát trung ương ngày nay) và Đại lý tự (Tòa thượng thẩm, tòa phá án).

Lúc đầu Ty tam pháp nằm ngay chân Kinh Thành giữa cửa Ngăn và cửa Thượng Tứ (nơi xây dựng viện Tỳ Bà của nhạc sư Nguyễn Hữu Ba ngày nay), sau dời về Tam tỏa (một cụm ba kiến trúc sắp thành hình chữ Mớn). Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) qui định hằng tháng cứ đến ngày 6, 16, 26 thì Tam pháp ty mở hội đồng để nhận các đơn thưa kiện của nhân dân. Vào những ngày thường trước cửa Tam Tòa có treo sẵn một cái trống lớn gọi là trống Đăng Văn “phàm các thần dân có tình trạng bị oan ức bất thần đến đánh ba tiếng trống thật mạnh, tiếp theo là một hồi trống dồn dập mau hơn. Nghe trống Đăng Văn vua cử một viên chức ra nhận đơn”. Trước khi đem đơn vào đệ lên cho vua phê viên chức ấy phải trói người đánh trống Đăng Văn lại, nếu người ấy đã lợi dụng trống Đăng Văn tố cáo sai sẽ bị tội nặng. Nếu lá đơn kêu một việc oan thật, vua phê xong giao xuống cho Tam pháp ty xét nghị và nhà vua sẽ quyết định sau cùng. Như vậy Tam pháp ty có vai trò như một tòa chung thẩm.

Tiếng trống Đăng Văn là một việc hệ trọng vang dội đến tai vua cho nên ngày xưa trong Nội thành cấm không cho đánh các loại trống khác để khỏi nhầm với trống kêu oan.

Nhờ có trống Đăng Văn mà bà Nguyễn Thị Tồn đã đáp ghe bầu ở trong Nam ra xin minh oan cho chồng là Bùi Hữu Nghĩa khỏi tội tử hình.

Sau ngà thất thủ Kinh đô 1885 vua nhà Nguyễn không còn có quyền để giải oan cho dân nên bãi bỏ Ty tam pháp và trống Đăng Văn. Năm 1901 vua Thành Thái lập lại nhưng rồi cũng không làm được việc gì. Đến năm 1906 bỏ hẳn.

Trống Đăng Văn là một biểu hiện tinh thần thân dân của nhà nước VN thời quân chủ. Ngày nay nước ta dân làm chủ, từ Trung ương xuống các địa phương có Phòng tiếp dân, có báo chí, có các ban thanh tra, kiểm tra ngày đêm tiếp không biết bao nhiêu đơn trương của những người kêu oan, không giống như ngày xưa chỉ có một Tam pháp ty, một trống Đăng Văn. Tuy thế ngừoi dân vẫn ước ao có thêm một cơ quan tương tự như Trống Đăng Văn. Trống bây giờ có đánh rách mặt da bò cũng không vượt được sự ồn ào của xã hội công nghiệp để đến được tai vị nguyên thủ quốc gia. Nhưng ví như có một phòng nào đó ở Bưu điện, mắc sẵn một đường dây điện thoại đặc biệt, để vào một ngày qui định hàng tháng dân cũng đến tự trói mình kêu oan thẳng tới người có trách nhiệm tối cao của quốc gia thì hay biết chừng nào!

Đình nghị - Chế độ làm việc của triều đình Nguyễn

Người ta thường cho rằng: “đã là vua thì muốn làm gì thì làm”. Sự thật không phải như vậy. Khổng giáo, cơ chế tổ chức chính quyền thời quân chủ đã hạn chế quyền hành của ông vua rất nhiều. Một trong những biện pháp hạn chế đó là chế độ đình nghị.

Đình nghị là cuộc họp các quan văn võ trong triều đình để thảo luận, bàn bạc đề xuất với vua một vấn đề gì.

Thể thức đình nghị đã có từ thời Lý nhưng mãi đến đời Minh Mạng triều Nguyễn mới có điển lệ rõ ràng. Thủ tục đình nghị gồm có:

1. Thành phần: Các quan văn võ tại Kinh từ chánh tứ phẩm trở lên;

2. Mỗi tháng họp vào bốn ngày chẵn: 2, 8, 16 và 24;

3. Thẩm quyền và quyền hạn: Có quyền xét tất cả các việc quốc gia quan yếu, tuyển chọn quan chức theo yêu cầu công vụ, duyệt lai các bản án quan trọng. (Quyền quyết định tối hậu dĩ nhiên vẫn dành cho nhà vua);

4. Thủ tục làm việc: Bộ sở quan hay nha sở quan có vấn đề nào cần nêu ra để hội ý kiến của Hội đồng cần phải lập một tờ trình về vấn đề đó. Tờ trình (gọi là nghị án) phải được chuyển trước đến các quan ít nhất là hai ngày trước khi hội đồng họp. Lúc họp đình nghị, các quan văn võ phải ghi rõ ý kiến của mình và ký tên ở dưới tờ tấu. Tờ tấu ấy gọi là nghị sách. Nếu ý kiến giống nhau phải ký tên và ghi tiếp bên cạnh. Nếu có ý kiến khác cũng ghi vào một tờ riêng gọi là nghị án. Tất cả các loại ý kiến đều phải tập hợp để trình nhà vua duyệt lãm. Những người được mời vào hội đồng phải có mặt và phải thảo luận cặn kẽ và có trách nhiệm với ý kiến của mình. Nếu người ấy vắng mặt hoặc có mặt mà không phát biểu sẽ bị Đô sát viên đàn hạch. Thời gian làm việc: những tối nghị (do nhà vua ra lệnh) phải bàn xong trong vòng năm ngày, những vấn đề thường nghị cũng phải làm xong trong vòng mười ngày.

Thời Lý có bà Thái hậu Chiêu Linh nắm hết quyền bính giống như một ông vua. Bà có âm mưu phế Thái tử Long cán, con trai vua Lý Anh Tôn (1176-1210) để lập con riêng của mình là Long Xưởng lên làm vua. Nhưng bà Thái hậu đã không thực hiện được âm mưu ấy vì khi đưa vấn đề ra đình nghị đình thần phản đối quyết liệt. Cuối cùng di chiếu của tiên vương được thực hiện, bà Thái hậu phải tuân theo ý kiến của đình thần.

Thời Nguyễn có nhiều việc chứng tỏ nhà vua phải chấp thuận theo “nghị sách” của các cuộc đình nghị. Năm Minh Mệnh thư 10, (1829) nước Vạn  Tượng bị Xiêm La thôn tính, quốc trưởng là A-Nổ đem hai con trai là Châu-Sơ và Chậu-Thiển qua phủ Trấn Tĩnh trú ngụ. Vua Minh Mệnh có ý không cho, vì muốn tránh gây hấn với Xiêm La. Chuyện được đưa ra đình thần đình nghị. Đình thần sau khi thảo mọi lẽ thiệt hơn cuối cùng họ dâng lên nhà vua một nghị sách, trong nghị sách ấy có đoạn viết:

“A-Nổ đang bại vong, hai con là Sơ và Thiển không nơi nương tựa; nên nước Đại Nam ta không được đang tâm từ khước. Vậy nên xứ cho họ ở Trấn Tĩnh; đồng thời sai trấn thần mật sức cho các viên chức phủ huyện trong quản hạt phải bí mật tổ chức bảo vệ cho họ. Nếu họ có chi dụng thiếu thốn, phải chu cấp đầy đủ”. 9MMCY, t.VI, tr.238-239). Vua Minh Mệnh cho thi hành theo ý kiến của đình thần.

Thời quân chủ không có các cơ quan dân cử, nhưng qua chế độ đình nghị cũng phản ảnh được phần nào ý kiến của đa số giúp cho nhà vua được gần với nguyện vọng của dân. Chế độ đình nghị lại làm việc thường xuyên, một tháng có đến 4 lần họp, mỗi lần họp đều có chuẩn bị trước, ai cũng có quyền phát biểu ý kiến riêng của mình, nhà vua duyệt lãm ý kiến của đa số và của cả thiểu số. Cũng có nhiều trường hợp nhà vua lại cho thực hiện theo ý kiến thiểu số nếu ý kiến đó mới mẻ mà đa số chưa có đìêu kiện hiểu biết. Vua Tự Đức “dùng” Nguyễn Trường Tộ (dù chưa  được đầy đủ) là một ví dụ chân lý thuộc về thiểu số.

Chế độ đình nghị phải chăng là cơ sở tự do ngôn luận và dân chủ truyền thống nước ta?

Khoa Cử

Khoa cử là chế độ thi tuyển quan lại ngày xưa.

Quan là cán bộ điều khiển, chỉ huy các cơ quan nhà nước. Lại là nhân viên thừa hành.

Quan cũng như Lại đều được lựa chọn trong số những người được trúng tuyển trong các kỳ thi từ địa phương đến trung ương do nhà nước tổ chức.

Chế độ tuyển chọn như thế đã có từ đời nhà Lý. Năm 1075, vua Nhân Tôn mở khóa thi Tam trường “để chọn người minh kinh bác học bổ làm quan”. Khoa đó chọn được 10 người, Lê Văn Thịnh đậu thủ khoa. Đỗ xong ông Thịnh được trọng dụng ngay. Lúc đầu ông làm Thị lang bộ Binh; chín năm sau, ông được làm chánh sứ đi thương nghị về việc biên giới với nhà Tống.

Khoa thi cuối cùng tổ chức vào năm 1919. Suốt gần 10 thế kỷ, chương trình đào tạo các vị được đổi mới nhiều lần. Nội dung chính gồm có các môn học nhân văn có tính chất đạo đức và chính trị, triết học và văn học, được bổ sung bằng môn lịch sử và một ít kiến thức có tính chất kỹ thuật, có quan hệ với việc thực hành nghề viên chức như luật pháp, nông học, thủy lợi học.v.v...

Các cuộc thi tuyển được tổ chức tương đối công bằng và khách quan. Mảnh bằng lúc ấy xác nhận cho các vị khoa bảng có đủ phẩm cách (qualité) để ra làm “cha mẹ của dân”. Xét trong quá trình lịch sử xây dựng nhà nước VN, những người có công trạng sáng chói phần lớn có chân khoa bảng.

Khoa bảng không những là điều kiện đầu tiên để người thanh niên bước vào hoạn lộ (đường công danh của quan và lại) mà ngay cả các nhà yêu nước muốn cho được lòng tin của dân cũng phải xuất thân khoa bảng. Cụ Phan Bội Châu hoạt động yêu nước từ lúc hàn vi, nhưng mãi đến sau ngày cụ đậu giải nguyên (1900) thì sự hưởng ứng của quốc dân đối với cụ mới lớn. Các nhà yêu nước Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế... đều là những nhà hoạt động cách mạng sau ngày đã đỗ đại khoa.

Nếu khoa cử được quan niệm và tổ chức thực hiện tốt thì nó có những tác động tốt.

Đối với vua, khoa cử hạn chế bớt quyền hạn của ông vua trong việc tuyển dụng quan lại. Ông vua phải chấp nhận con người do khoa cử tuyển chọn.

Đối với ông quan, vì do kết quả các kỳ thi mà họ được tuyển chọn chứ không phải do một thế lực chủ quan nào. Bởi thế họ không mang ơn ai hết. Tiếng nói của họ khách quan, nếu được đặt vào địa vị đàn hặc, nghị giáng bạn đồng liêu (ngay cả hoàng đế) họ cũng không ngại. Bởi thế Phan Đình Phùng mới dám đàn hặc Tôn Thất Thuyết (chuyên quyền hơn cả vua) giữa chốn đại đình, Đặng Huy Trứ mới dám suy nghĩ:

“Muốn dân được lợi cần quyền biến,

Tội vạ riêng mang há sợ gì”.

Đối với người học sinh họ tin là thi cử công bằng, thi đỗ thì thế nào cũng được đổi đời ra làm quan giúp nước. Lòng tin đó giúp họ yên tâm rèn luyện “có công mài sắt có ngày nên kim”.

Chế độ khoa cử VN chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, đã được áp dụng từ thế kỷ XI. Mãi đến thế kỷ XIX, châu Âu mới chú ý đến nó. Phổ là nước áp dụng đầu tiên (1832), sau đến nước Anh (1870) và các nước châu Âu khác. Cuối cùng, năm 1883 mới sang đến Mỹ. “Một người Anh ở Trung Quốc cho biết ông đã áp dụng nguyên tắc tuyển mộ những người làm công việc nhân sự qua thi tuyển. Ông ta đánh giá rất cao việc áp dụng chế độ thi tuyển quan chức của Trung Quốc vào châu Âu ngang với hiệu quả của thuốc súng và máy in đối với các lĩnh vực khác của xã hộ châu Âu” (Servir L’Etat, Paris 1987).

Ngày nay khi nói về hiện tượng nhảy vọt của các “con rồng châu Á” người ta nói đến truyền thống coi trọng học thức (nhất sĩ nhì nông...) của các nước này trong quá khứ. Nước VN đã sẵn nguồn gốc “con rồng cháu tiên”, đã có lịch sử trọng nhân tài và tuyển chọn con người qua thi cử hàng ngàn năm, ngày nay chỉ cần thay đổi nội dung và mục tiêu đào tạo thì chúng ta sẽ có một đội ngũ những nhà quản lý có học thức, những nhà quản lý có học thức, những nhà khoa học sáng tạo và các nhà kinh doanh tài giỏi đủ sức biến con rồng truyền thuyết thành con rồng kinh tế VN ở Đông Nam châu Á. Nhưng ...nếu chúng ta vẫn tiếp tục giữ tình trạng các nhà quản lý còn đi học bổ túc văn hóa, đi học tại chức, giương cao khẩu hiệu “vừa học vừa làm”, “sai đâu sửa đó” thì rồi ra đứng trước các con rồng kinh tế lân bang con rồng truyền thuyết VN sẽ lộ nguyên hình là một con liu điu [2] kinh tế.

 

                                                              Nguyễn Đắc Xuân

                                                            sao lục và biên soạn

 


[1] Trước năm 1975 Tam Tòa là pháp đình Thượng thẩm, sau năm 1975 được làm cơ quan Tỉnh ủy thừa Thiên, Huế.

[2] Ca dao có câu: Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu. Tự điển Tiếng Việt: liu điu là rắn có nọc độc ở hàm trên, phía sau có răng nhỏ, đẻ con, sống ở ao hồ, ăn ếch nhái.

 

 
 
Các bài Nghiên cứu khác